Recent Blog post

nề nếp, học tập. Từ đó làm cho hoạt động trí học và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau, vận dụng được nguyên lí giáo dục kết hợp lí thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội. 1.6. Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lí vào dạy học Ngữ văn để gây hứng thú: Chúng ta đang sống trong thời đại của công nghệ thông tin. Đây là một phương tiện giúp chúng ta thuận lợi hơn trong mọi công việc. Nhất là ngày nay ở lứa tuổi học sinh từ khi còn ở bậc tiểu học các em đà tò mò khám phá những điều thú vị từ công nghệ thông tin, vậy thì đến bậc THPT các em còn hiểu biết nhiều hơn. Nếu bản thân giáo viên biết ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học thì chắc hẳn môn Ngữ văn sẽ tác động mạnh mẽ đến tâm hồn các em hơn, làm các em thấy môn học này gần gũi, thú vị dễ khám phá và nắm bắt tri thức hơn; không còn bắt các em chỉ nhìn vào phấn trắng, bảng đen đơn thuần nữa. Những đoạn phim, những tranh ảnh, những lời ca tiếng hát...không những nói hộ giáo viên nhiều điều mà còn làm cho các em say mê, hứng thú hơn môn học này. Ví dụ: Khi dạy bài “ Tấm Cám” chúng ta có thể cho các em xem tranh ảnh, trích một số đoạn phim về nội dung câu chuyện. Khi dạy “Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa” có thể cho các em nghe một bài hát, một làn điệu dân ca nào đó. Với “ Hồi trống Cổ Thành” giáo viên cũng có thể cho các em xem phim về đoạn trích. Khi dạy“ Chí Phèo”Sách Ngữ văn 11, tập I, giáo viên cho học sinh xem một vài đoạn phim nhỏ nói về hình ảnh Chí Phèo cùng với tiếng chửi, hình ảnh của thị Nở cùng với bát cháo hành, hình ảnh chí Phèo hiền lành sau khi ăn cháo hành... Với đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” có thể cho các em xem một số đoạn phim, như cảnh đám ma, cảnh hạ huyệt cậu Tú Tân chụp hình,… Khi dạy bài “ Phong cách ngôn ngữ báo chí” thay vì tìm hiểu “chay” những thể loại và đặc điểm của chúng thì giáo viên có thể tận dụng công nghệ thông tin đưa một bản tin thời sự, một đoạn phóng sự ngắn, hay đoạn quảng cáo,…Hoặc bài “Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt” chúng ta cũng có thể tận dụng đưa lên trình chiếu đoạn hội thoại trong sách giáo khoa hoặc cho các em xem một đoạn phim có sử dụng ngôn ngữ sinh hoạt. Đối với những bài thơ có thể cho các em nghe những bài ngâm của các nghệ sĩ như “Đây thôn Vĩ Dạ” có thể nghe nghệ sĩ Hồng Ngát ngâm. Khi dạy lớp 12, một số bài chúng ta cũng có thể tận dụng thao tác này như “Sóng”, “Đàn ghi-ta của Lor-ca”, hay lời đọc “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh. Có thể xem một đoạn phim hay những bức ảnh về hình ảnh sông Hương hay sông Đà khi dạy “Ai đã đặt tên cho dòng sông” và “Người lái đò sông Đà”. Ở bài “Vợ chồng A Phủ” có thể cho các em nghe bài hát “Bài ca trên núi” khi dạy Tiểu dẫn. Ở bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh”- Ngữ văn 10, tập II trong bài luyện tập trang 72,73 thay vì đọc tóm tăt văn bản “Đền Ngọc Sơn và hồn thơ Hà Nội” giáo viên có thể cho các em xem một đoạn phim có lồng lời thuyết minh cho văn bản này. Tất cả sẽ tác động trực tiếp đến tâm hồn của các em, làm cho các em phải trăn trở suy nghĩ và từ đó sẽ gây hứng thú hơn trong việc tìm hiểu tác phẩm, tìm hiểu về số phận của nhân vật và chắc hẳn niềm hứng thú học văn chương sẽ tăng lên rất nhiều trong tâm hồn các em. 2. Gây hứng thú bằng việc lồng ghép các trò chơi trong dạy học Ngữ văn 11 Chúng ta thường nghe nói “Học mà chơi, chơi mà học”. Chính vì thế việc tận dụng các trò chơi cũng góp phần làm nên sự thành công trong bài học. Giáo viên có thể cho các em chơi các trò chơi như ô chữ, đoán từ qua hình ảnh – hành động, tiếp sức,… * Ví dụ: với bài “Thực hành về thành ngữ, điển cố”- Ngữ văn 11, Tập I giáo viên có thể cho cho học sinh chơi trò chơi là nhìn vào hình ảnh động trên máy chiếu và đoán xem đó là thành ngữ, điển cố gì khi củng cố bài học. Hay trong bài “Sóng” cũng có thể cho các em chơi trò chơi tiếp sức: đó là trong phần tìm hiểu Tiểu dẫn giáo viên chuẩn bị hai bảng phụ có ghi tên các sáng tác của Xuân Quỳnh, trong vòng một phút hai dãy của lớp thay nhau lên điền năm sáng tác bên cạnh các sáng tác đã có sẵn, đội nào đúng – đủ và nhanh nhất sẽ là đội chiến thắng. Từ đó có thể nhận thấy các em rất hứng thú, sôi nổi, chủ động. * Ví dụ: Khi học bài ôn tập “ Văn học dân gian Việt Nam” sách Ngữ văn 10, tập 1, giáo viên yêu cầu học sinh điền tiếp vào sau các từ mở đầu Thân em như... và Chiều chiều... thành những bài ca dao trọn vẹn. Lớp chia thành hai dãy và chuẩn bị nội dung đã bốc thăm - Dãy 1: Chủ đề “ Thân em như...” - Dãy 2: Chủ đề “ Chiều chiều...” Mỗi nhóm lần lượt cử đại diện lên trình bày. Các em luân phiên đọc diễn cảm các bài ca dao và bình giá trị nghệ thuật cũng như nội dung các bài ca dao vừa đọc. Học sinh nào trong thời gian ngắn nhất mà vừa đọc diễn cảm bài ca dao, vừa bình tốt giá trị nội dung và nghệ thuật thì giáo viên ghi nhận và cho điểm. 3. Giáo án minh họa: Giáo án trước khi áp dụng đề tài: Tiết 17, 18: Đọc văn TẤM CÁM I. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT - Hiểu được ý nghĩa của những mâu thuẫn, xung đột trong truyện và sự biến hoá của Tấm. - Nắm được đặc trưng cơ bản của truyện cổ tích thần kì qua một truyện cụ thể. B. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG 1. Kiến thức - Những mâu thuẫn, xung đột giữa dì ghẻ và con chồng trong gia đình phụ quyền thời cổ, giữa thiện và ác trong xã hội. Sức sống mãnh liệt của con người và niềm tin của nhân dân. - Kết cấu của truyện cổ tích: người nghèo khổ, bất hạnh trải qua nhiều hoạn nạn cuối cùng được hưởng hạnh phúc. Sử dụng hợp lí, sáng tạo các yếu tố thần kì. 2. Kĩ năng - Tóm tắt văn bản tự sự. - Phân tích một truyện cổ tích thần kì theo đặc trưng thể loại. 12 C. NỘI DUNG LÊN LỚP 1. Ổn định, kiểm tra - Ổn định lớp: kiểm tra sĩ số - Kiểm tra bài cũ : Em có cảm nhận gì về con người Ra-ma qua đoạn trích “ Ra-ma buộc tội”? 2. Tiến trình tổ chức dạy học bài mới Hoạt động của thầy và trò Nội dung * Hoạt động 1: - Tạo tâm thế: giới thiệu bài - Tìm hiểu tiểu dẫn I. Tiểu dẫn Cho học sinh đọc phần tiểu dẫn trong SGK. 1. Thể loại 1. Hãy nêu các thể loại truyện cổ tích? "Tấm Truyện cổ tích thần kỳ Cám" thuộc thể loại nào? 2. Nêu đặc trưng cơ bản của thể loại cổ tích 2. Đặc trưng thần kì? Gv yêu cầu học sinh lấy ví dụ? Có sự tham gia của các yếu tố thần kỳ vào tiến trình phát triển của câu chuyện (Bụt, Tiên, hay sự biến hoá thần kỳ). * Hoạt động 2: Đọc - hiểu văn bản II. Đọc - hiểu văn bản GV gọi HS đọc hướng dẫn HS đọc đúng thể loại tự sự. Cho HS tìm hiểu các chú thích. GV chốt lại các chú thích tiêu biểu.) (Cách đọc: - Đọc theo đặc trưng, thể loại tự sự chú ý 1. Cách đọc giọng điệu câu từng nhân vật trong cách nó. - Chú ý các chi tiết tình tiết thể hiện sự xung đột giữa các nhân vật. - Chú thích: Bụt, Trầu cánh phượng, Áo mớ ba GV yêu cầu HS ?Hãy tóm tắt lại cốt truyện? 2. Tóm tắt cốt truyện Học sinh kể tóm tắt lại câu chuyện, có thể gọi những em khác nhận xét, bổ sung các chi tiết, sự kiện còn thiếu. Sau đó GV kể lại câu chuyện. Gv cho học sinh trả lời theo từng câu hỏi II. Phân tích 1. Hoàn cảnh đẫn đến mâu thuẫn giữa Tấm và mẹ con Cám 1.Cuộc đời và số phận bất hạnh của Tấm a. Thân phận của Tấm được miêu tả như thế nào? - Tấm mồ côi mẹ từ nhỏ. 13 - Không bao lâu cha mất Tấm ở với dì ghẻ độc ác. 2. Qua đó em suy nghĩ gì? 3. Tác giả dân gian đã miêu tả diễn biến truyện như thế nào để dẫn đến xung đột giữa Tấm và mẹ con Cám? Mâu thuẫn này phát triển như thế nào? 4. Mâu thuẫn giữa Tấm và mẹ con Cám thuộc phạm vi gia đình hay xã hội? Cụ thể là mâu thuẫn gì? (Học sinh tự tìm hiểu, liệt kê các chi tiết, hành động của mẹ con Cám đối với Tấm và phản ứng của Tấm trước những sự việc đó). 5. Quá trình biến hoá của Tấm diễn ra như thế nào? { Cho Hs vẽ sơ đồ và nhận xét }. - Chim vàng Anh → xoan đào → khung cửi 14 - Phải làm lụng vất vả từ sáng đến tối: “Hàng ngày…việc nặng”. -> Tấm là cô gái chăm chỉ, hiền lành, đôn hậu. b. Mâu thuẫn giữa Tấm và Mẹ con Cám - Cám lừa Tấm trút hết giỏ tép để giành phần thưởng chiếc yếm đỏ. - Mẹ con Cám lừa giết cá bống ăn thịt. - Mẹ con Cám không muốn cho Tấm đi xem hội đổ thóc trộn lẫn gạo bắt nhặt. - Khi thấy Tấm thử giày, mụ dì ghẻ bĩu môi tỏ vẻ khinh miệt. - Giết Tấm và giết cả những kiếp hồi sinh của Tấm. -> Mâu thuẫn chủ yếu trong tác phẩm là mâu thuẫn giữa cô Tấm mồ côi, xinh đẹp, hiền lành với dì ghẻ và Cám ác độc, tàn nhẫn. Mâu thuẫn này phát triển từ thấp đến cao : ban đầu chỉ là những hơn thua về vật chất, tinh thần, sự ganh ghét mẹ ghẻ con chồng,... Khi đó, Tấm luôn là người nhường nhịn, chịu thua thiệt. Càng về sau, mâu thuẫn chuyển thành sự đố kị, một mất một còn, tiêu diệt lẫn nhau. => Đây là những mâu thuẫn trong gia đình phụ quyền thời cổ nhưng trên hết là mâu thuẫn giữa thiện và ác trong xã hội. Mâu thuẫn này được tác giả dân gian giải quyết theo hướng thiện thắng ác. 2. Cuộc đấu tranh không khoan nhượng để giành lại hạnh phúc D. HƯỚNG DẪN HỌC SINH HỌC TẬP Ở NHÀ 1. Hướng dẫn học bài - Đọc (kể) bằng giọng phù hợp với đặc điểm nhân vật : Tấm hiền thục, Cám chanh chua, Bụt nhân từ, dì ghẻ độc ác. - Tại sao nói Tấm Cám rất tiêu biểu cho đặc điểm nghệ thuật của thể loại truyện cổ tích nhất là truyện cổ tích thần kì ? 2. Hướng dẫn soạn bài Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài học tập làm văn “Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong bài văn tự sự”. Gợi ý: - Thế nào là sự việc, chi tiết tiêu biểu? - Ý nghĩa của việc lựa chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu? Giáo án khi áp dụng đề tài: Tạo hứng thú bằng cách tạo không khí lớp học bằng tranh ảnh; Sử dụng công nghệ thông tin và Kích thích hứng thú học Ngữ văn bằng phương pháp dạy học theo tình huống và giải quyết vấn đề: Tiết 17, 18: Đọc văn TẤM CÁM I. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT - Hiểu được ý nghĩa của những mâu thuẫn, xung đột trong truyện và sự biến hoá của Tấm ; - Nắm được đặc trưng cơ bản của truyện cổ tích thần kì qua một truyện cụ thể. B. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG 1. Kiến thức - Những mâu thuẫn, xung đột giữa dì ghẻ và con chồng trong gia đình phụ quyền thời cổ, giữa thiện và ác trong xã hội. Sức sống mãnh liệt của con người và niềm tin của nhân dân. - Kết cấu của truyện cổ tích: người nghèo khổ, bất hạnh trải qua nhiều hoạn nạn cuối cùng được hưởng hạnh phúc. Sử dụng hợp lí, sáng tạo các yếu tố thần kì. 2. Kĩ năng - Tóm tắt văn bản tự sự. - Phân tích một truyện cổ tích thần kì theo đặc trưng thể loại. C. NỘI DUNG LÊN LỚP 1. Ổn định, kiểm tra - Ổn định lớp: kiểm tra sĩ số - Kiểm tra bài cũ : Em có cảm nhận gì về con người Ra-ma qua đoạn trích “ Ra-ma buộc tội”? 2. Tiến trình tổ chức dạy học bài mới 15 Hoạt động của thầy và trò Nội dung * Hoạt động 1: - Tạo tâm thế: giới thiệu bài I. Tiểu dẫn - Tìm hiểu tiểu dẫn Cho học sinh đọc phần tiểu dẫn trong SGK. 1. Thể loại 1. Hãy nêu các thể loại truyện cổ tích? "Tấm Cám" thuộc thể loại nào? Truyện cổ tích thần kỳ 2. Đặc trưng 2. Nêu đặc trưng cơ bản của thể loại cổ tích Có sự tham gia của các yếu tố thần kì? Gv yêu cầu học sinh lấy ví dụ? thần kỳ vào tiến trình phát triển của câu chuyện (Bụt, Tiên, hay sự biến hoá thần kỳ). * Hoạt động 2: Đọc - hiểu văn bản II. Đọc - hiểu văn bản GV gọi HS đọc hướng dẫn HS đọc đúng thể loại tự sự. Cho HS tìm hiểu các chú thích. GV chốt lại các chú thích tiêu biểu.) (Cách đọc: - Đọc theo đặc trưng, thể loại tự sự chú ý 1. Cách đọc giọng điệu câu từng nhân vật trong cách nó. - Chú ý các chi tiết tình tiết thể hiện sự xung đột giữa các nhân vật. - Chú thích: Bụt, Trầu cánh phượng, Áo mớ ba GV yêu cầu HS ?Hãy tóm tắt lại cốt truyện dựa vào những 2. Tóm tắt cốt truyện hình ảnh sau? 16

Sáng kiến kinh nghiệm TẠO HỨNG THÚ TRONG GIỜ HỌC NGỮ VĂN CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

By : amakong2
Thứ Tư, 6 tháng 7, 2016
0
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2014 - 2015  Nhận xét: Trong lời thoại, các câu cảm thán ngắn, lời văn dồn dập, hối thúc thể hiện trạng thái căng thẳng, bức bách. Nếu độc thoại ở màn đầu tiên, Trương Ba hiện lên trong trạng thái dằn vặt đau khổ thì ở màn độc thoại ở đoạn cuối, nỗi đau càng xa xót nhưng nhân vật không còn trăn trở về tình trạng Hồn – Xác bất nhất mà đã có một thái độ chủ động dứt khoát. Nhóm 2: Đối thoại Hồn - Xác, Đây là màn đối thoại giàu tính triết lí, thể hiện cuộc đấu tranh dai dẳng giữa hai mặt tồn tại trong một con người, Hồn Trương Ba càng lúc càng rơi vào thế tuyệt vọng, bất lực. Yêu cầu các em trả lời được các ý chính sau: * Lời lẽ, cử chỉ, mục đích, thái độ, vị thế của Hồn và Xác khi đối thoại: - Xác: xoáy vào hiện thực bi kịch của Hồn: “linh hồn mờ nhạt”, “không tách ra khỏi tôi được đâu” Hồn: ngạc nhiên vì thể xác cũng có tiếng nói “mày không có tiếng nói, mà chỉ là xác thịt âm u đui mù”. - Xác: “ông đã biết tiếng nói của tôi rồi, đã luôn luôn bị tiếng nói ấy sai khiến”, “sức mạnh ghê gớm, lấn át cả linh hồn cao khiết”. Hồn: bất lực, phủ định tiếng nói của Xác: “chỉ là vỏ bề ngoài, không có ý nghĩa gì hết, không có tư tưởng, không có cảm xúc”. - Xác: hỏi lại đầy thách thức: “Có thật thế không?”. Hồn: chùn và đuối lí, buộc phải dần đồng tình, xác nhận sự ảnh hưởng của Xác “nếu có, thì chỉ là những thứ thấp kém, mà bất cứ con thú nào cũng có được”. - Xác: nhận thức sự lợi lí của mình, tiếp tục châm chọc: “Khi ông ở bên nhà tôi… Khi ông đứng bên cạnh vợ tôi, tay chân run rẩy, hơi thở nóng rực, cổ nghẹn lại… Đêm hôm đó, suýt nữa thì…” => nhắc lại sinh động, tường tận dục vọng vật chất bồi thêm nỗi dằn vặt vì sự thật nhỡn tiền, phũ phàng - Hồn đang xuôi theo Xác, bị Xác sai khiến. Hồn: kiên quyết phủ định: “là mày chứ, chân tay mày, hơi thở mày”. - Xác: đồng tình nhưng cũng đồng thời hỏi xoáy lại: “Chẳng lẽ ông không xao xuyến”, “Để thỏa mãn tôi, chẳng nhẽ ông không tham dự chút đỉnh gì?”. Xác dẫn dắt Hồn vào sự thật không thể phủ nhận – Hồn ít nhiều đã bị vấy bẩn, tha hóa bởi dục vọng của thân xác. Thực tế, lí lẽ của Xác khơi trúng điểm đen mà lâu nay vì trú ngụ trong Xác hàng thịt, Hồn Trương Ba trong khiết đã hóa màu. Hồn: bất lực: “Ta… ta đã bảo mày im đi”: Những lời văn ngập ngừng như lí lẽ bị hụt hơi cho thấy Hồn bị dồn vào chân tường để buộc phải công nhận sự chế ngự của thể xác. - Xác: xác nhận lại thái độ của Hồn “không dám trả lời”, khẳng định một lần nữa “Hai ta đã hòa làm một rồi”. Đây là việc nhấn vào sự thật đau đớn mà Hồn đang muốn trốn chạy, muốn phủ nhận, đẩy tình huống kịch lên cao trào. Hồn: Cố gắng cứu vãn: “Ta vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn…” - Xác: mỉa mai “Khi ông phải tồn tại nhờ tôi, chiều theo những đòi hỏi của tôi, mà còn nhận là nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn!. Hướng dẫn học sinh tiếp cận đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt theo đặc trưng thể loại” 11 Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2014 - 2015 Hồn: “bịt tai lại” là cách bộc lộ sự nỗ lực chối bỏ tuyệt vọng. - Xác: tiếp tục dùng lời lẽ hiểm hóc sắc lẹm như dao mổ, phanh trần nỗi đau đang tấy mủ trong Hồn: sức mạnh của Xác đã giúp Hồn thêm để làm việc vũ phu “tát thằng con ông tóe máu mồm máu mũi”. Hồn: chối bỏ “sức mạnh làm ta trở thành tàn bạo”. - Xác: biện minh cho mình bằng những lí lẽ: “là hoàn cảnh” buộc Hồn phải qui phục, “cũng đáng được quí trọng”, không có tội. Hồn: phản ứng yếu ớt: “Nhưng...Nhưng” - Xác: “tôi rất biết cách chiều chuộng linh hồn”. Hồn hỏi: “Chiều chuộng”? - Xác: đưa ra giao kèo thỏa hiệp để chung sống: Xác sẽ “ve vuốt” Hồn bằng cách thông cảm với “những trò chơi tâm hồn”, nhận hết mọi điều xấu miễn là Hồn vẫn “làm đủ mọi việc để thỏa mãn thèm khát” của Xác. Hồn: nhận thức “lí lẽ ti tiện” của Xác. - Xác: khẳng định sự thắng thế của mình. Hồn than bất lực. - Xác: an ủi, kết thúc cuộc đối thoại. - Trong cuộc đối thoại với xác anh hàng thịt, hồn Trương Ba ở vào thế yếu, đuối lí bởi xác nói những điều mà dù muốn hay không muốn Hồn vẫn phải thừa nhận. Như vậy trước những "lí lẽ ti tiện" của xác thịt, Trương Ba đã nổi giận, đã khinh bỉ, đã mắng mỏ xác thịt hèn hạ nhưng đồng thời cũng ngậm ngùi thấm thía nghịch cảnh mà mình đã lâm vào, đành nhập trở lại vào xác thịt trong tuyệt vọng.  Nhận xét: - Tương quan lượt lời: Xác: dài, dày đặc, Hồn: ngắn, thưa thớt thể hiện sự đuối lí, bất lực. Ở tình thế này Hồn bị đẩy vào đường cùng, buộc phải xuôi theo những sự thật và lí lẽ hiển nhiên mà Xác chỉ ra. Còn Xác tung ra những lí lẽ sắc bén, giàu tính triết lí trong sự thắng thế, lấn át. - Xung đột kịch được đẩy lên cao trào. Nhóm 3: Tìm hiểu về màn đối thoại giữa hồn Trương Ba với người thân: với vợ, với cháu (cái Gái) và với con dâu * Với vợ: - Vợ: Có ý định đi biệt để Trương Ba được thảnh thơi, “Còn hơn là thế này”; chỉ ra: “ông đâu còn là ông, đâu còn là Trương Ba làm vườn ngày xưa”. Người vợ vị tha, nhẫn nhịn, hết mực yêu thương chồng giờ đây mang tâm trạng đau khổ tột cùng vì chứng kiến sự đổi thay của chồng. Nỗi đau hiện tại còn kinh khủng hơn giây phút bà tiễn thân xác chồng khỏi thế gian. - Hồn Trương Ba: Lời thoại ngắn, toàn câu hỏi biểu hiện: sự ngơ ngác, thảng thốt và trạng thái thẫn thờ, tê xót. Hành động: ngồi xuống, tay ôm đầu cho thấy Trương Ba đau khổ, dằn vặt, tuyệt vọng. * Với Cái Gái: Hướng dẫn học sinh tiếp cận đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt theo đặc trưng thể loại” 12 Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2014 - 2015 - Cái Gái: Yêu thương gắn bó với ông hết mực: đêm nào cũng khóc, nâng niu từng chút kỉ niệm của ông vì thế mà khi Trương Ba trú ngụ trong xác hàng thịt và có nhiều thay đổi cái Gái đã phản ứng dữ dội: Lời lẽ tàn nhẫn, phũ phàng để chối bỏ, xua đuổi Hồn Trương Ba. Đây là phản ứng quyết liệt của một đứa trẻ kiên quyết không chấp nhận cái xấu, cái ác. - Trương Ba: run rẩy bởi những lời nói của cháu nhỏ thêm một lần nữa xoáy sâu vào nỗi đau thăm thẳm của ông, để ông cảm nhận thấm thía bi kịch bị chính những người thân yêu chối bỏ. * Với con dâu: - Con dâu: Thấu hiểu và cảm thông: “thầy khổ hơn xưa nhiều lắm”, “thương hơn”; nhận thức một sự thật đau đớn: “làm sao để giữ thầy ở lại, hiền hậu, vui vẻ, tốt lành như thầy của chúng con xưa kia”. - Trương Ba: Trước những lời lẽ chân thực của con dâu ông đã “lạnh ngắt như tảng đá”, hoàn toàn tuyệt vọng.  Nhận xét: Qua ba lượt đối thoại với người thân đẩy bi kịch của Hồn Trương Ba lên tới chót đỉnh. Những người thân thiết nhất cũng không chấp nhận nổi tình trạng hồn xác bất nhất của chồng, cha, ông mình. Trương Ba cảm nhận mình đã mất tất cả, rơi vào trạng thái đơn độc, chống chếnh. Đối thoại với những người thân mới cho nhân vật nhận cảm thấm thía tình trạng của bản thân, để đi đến hành động giải thoát quyết liệt. Tác giả không đưa ra đối thoại với người con trai (lúc này đã bị đồng tiền cám dỗ, sinh ra thói con buôn vụ lợi) vào mà để Hồn Trương Ba đối thoại với vợ, cháu gái, con dâu – những người yêu thương, gắn bó với Trương Ba nhất để dẫn dắt Trương Ba đến nhận thức sâu sắc về tình trạng tuyệt vọng không lối thoát của bản thân mình. Nhóm 4: * Tìm hiểu về màn đối thoại giữa hồn Trương Ba với Đế Thích và đoạn kết vở kịch: + Đế Thích: - Đưa ra đề xuất để Trương Ba được sống: nhập xác Cu Tị để được tồn tại. - Khẳng định một hiện thực không phân biệt trần gian hay thượng giới: không ai được toàn vẹn cả. - Không hiểu được những suy nghĩ của Trương Ba “con người trần giới các ông thật kì lạ”. Đế Thích là vị thần tiên quyền phép biến hóa, yêu mến Trương Ba nhưng rốt cuộc vẫn mang tầm nhìn, điểm nhìn xa lạ, không thể thấu hiểu những suy nghĩ trần thế. + Hồn Trương Ba: Thẳng thắn, rõ ràng: phủ nhận cuộc sống hồn này, xác kia, cuộc sống chỉ có ý nghĩa thực sự khi hòa hợp và toàn vẹn giữa Hồn và Xác. - “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Đây là quan niệm: Hồn và Xác luôn thống nhất hài hòa trong một con người. Không thể có linh hồn thanh khiết trong một thể xác dung tục, tội lỗi. Khi con người bị vấy bẩn bởi những dục vọng bản năng thì đừng chỉ đổ lỗi cho xác thân, tự vỗ về, Hướng dẫn học sinh tiếp cận đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt theo đặc trưng thể loại” 13 Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2014 - 2015 ngụy biện bằng linh hồn cao khiết siêu hình; thái độ sống cần có của con người: dũng cảm, dám đối mặt, thừa nhận những sai lầm của bản thân, để không bao giờ trốn chạy. - “Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác, đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!”. Quan niệm: Cuộc sống thật đáng quí nhưng sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá, không được là mình thì thật vô nghĩa. “Sống” đơn thuần chỉ là đời sống thực vật, “sống như thế nào” – sống “toàn vẹn” mới là đời sống của một con người. Để có được ý nghĩa chân chính đó quả không dễ dàng. - Khi Đế Thích so sánh: không thể đổi tâm hồn cao quí của bác lấy chỗ cho cái phần hồn tầm thường của anh hàng thịt, Trương Ba đã phản ứng: tầm thường nhưng chúng sẽ sống hòa thuận với nhau. - Chi tiết: Cu Tị chết tác giả đã đẩy bi kịch đến chỗ “mở nút”. Trương Ba tưởng tượng ra giả cảnh khi nhập xác đứa bé và nhận thấy bao nhiêu phiền toái khác do sự vênh lệch hồn xác sẽ xảy ra, nỗi đau của người thân cu Tị, Hồn Trương Ba đã có nhận thức tỉnh táo để quyết định sáng suốt: xin cho cu Tị sống lại, để mình chết hẳn.  Nhận xét: - Lời của Trương Ba dày đặc, hoàn toàn không còn cái ngập ngừng, yếu thế như trong đối thoại với Xác, mà tự tin, chủ động bày tỏ. - Quá trình đưa ra quyết định dứt khoát “chết hẳn”, Trương Ba đã thực hiện cuộc phục sinh tâm hồn mình. Người ta lại thấy một Trương Ba nhân hậu, vị tha, giàu tình thương. - Nhận thức được ý nghĩa đích thực của cuộc sống: Cuộc sống đáng quí biết bao (Ông tưởng tôi không ham sống hay sao?), nhưng sống mà không được là mình (sống giả tạo) thì chẳng có lợi cho ai ngoài “bọn khốn kiếp” đục nước béo cò. Từ đó tác giả gửi gắm những quan niệm của tác giả về hạnh phúc, sự sống, cái chết. * Tìm hiểu về đoạn kết vở kịch + Khung cảnh: - Vườn cây: rung rinh ánh sáng. Đây là không gian quen thuộc gắn với con người Trương Ba, tinh thần Trương Ba và là nơi lưu dấu những hồi ức tươi đẹp về Trương Ba trong lòng người thân vẫn được vun xới, để lại chan hòa, ấm áp. - Cu Tí hồi sinh và mẹ con đoàn tụ là hạnh phúc trong trẻo, cảm động. + Sự xuất hiện của Trương Ba: - Qua lời văn: chập chờn xuất hiện , đây chỉ là cái bóng. - Qua lời Trương Ba: “Tôi vẫn ở liền ngay bên bà đây, ngay trên bậc cửa nhà ta, trong ánh lửa bà nấu cơm, cầu ao bà vo gạo, trong cái cơi bà đựng trầu, con dao bà giẫy cỏ… Không phải mượn thân ai cả, tôi vẫn ở đây, trong vườn cây nhà ta, trong những điều tốt lành của cuộc đời, trong mỗi trái cây cái Gái nâng niu” - Qua đối thoại của cái Gái và cu Tị: cây na này ông nội tớ trồng đấy; qua hành động vùi hạt na xuống đất: “Cho nó mọc thành những cây mới. Ông nội tớ bảo vậy. Những cây sẽ nối nhau mà lớn khôn. Mãi mãi” là hình ảnh biểu tượng: đứa trẻ ngây thơ, trong trắng gieo trồng hạt giống mới biểu trưng cho sự nối tiếp, sinh sôi bất tử của Hướng dẫn học sinh tiếp cận đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt theo đặc trưng thể loại” 14 Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2014 - 2015 Hồn Trương Ba, vẻ đẹp Trương Ba – thanh khiết, vẹn nguyên. Có thể thấy cái chết hẳn về thể xác là sự hoàn nguyên kì diệu cho tâm hồn. Trương Ba đang sống một cuộc sống khác: sự sống bất diệt trong trái tim những người thân.  Nhận xét: Lời văn thấm đẫm cảm xúc, giàu chất thơ, chất trữ tình trong kịch Lưu Quang Vũ. Tác giả tiếp tục khái quát triết lí nhân sinh: Ý nghĩa sự sống nhiều khi không phải ở sự tồn tại sinh học mà ở chính sự hiện diện của ta trong suy nghĩ, nỗi nhớ của những người thương yêu; Vẻ đẹp tâm hồn có đời sống dài lâu và bất tử so với thể xác. 2.3.3.2. Tìm hiểu đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích Dựa trên sự thảo luận, trao đổi, gợi tìm qua hướng dẫn của giáo viên, học sinh đã nắm được nội dung của văn bản, giáo viên tiếp tục định hướng cho các em tìm hiểu về nghệ thuật của đoạn trích bằng cách: Giáo viên hệ thống lại các chi tiết, các lời thoại, tình huống kịch... để học sinh phát hiện bút pháp nghệ thuật của tác giả qua các câu hỏi sau: Nhận xét của em về nghệ xât dựng tình huống kịch, nghệ thuật dựng cảnh, hành động kịch, ngôn ngữ, giọng điệu nhân vật qua ngòi bút Lưu Quang Vũ? * HS trao đổi và GV định hướng: - Từ cốt truyện dân gian, tác giả đã có sự sáng tạo đặc sắc. - Cách diễn tả hành động, ngôn từ nhân vật - yếu tố trọng yếu để phát triển xung đột, xây dựng tình huống, thể hiện tính cách nhân vật trong nghệ thuật viết kịch. + Nghệ thuật dựng cảnh: kết hợp yếu tố kì ảo và nội dung hiện thực. + Hành động kịch: Phù hợp với hoàn cảnh, theo đúng logic phát triển của tình huống kịch. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hành động bên ngoài và hành động bên trong (những độc thoại nội tâm thể hiện trạng thái tinh thần căng thẳng, đầy day dứt) - Ngôn ngữ: giàu tính triết lí, giọng điệu tranh biện sinh động, gắn với trạng huống cụ thể (Sự khác biệt của ngôn ngữ Trương Ba trong đối thoại với Xác, vợ, cái Gái, Đế Thích…) - Giọng điệu nhân vật biến hóa đa dạng, có sự kết hợp giữa giọng hướng ngoại và hướng nội - độc thoại nội tâm. 2.3.3.3. Hướng dẫn học sinh tổng kết GV hướng dẫn HS tổng kết nội dung và nghệ thuật, lưu ý phần ghi nhớ trong sách giáo khoa. - Với ngòi bút tài hoa, tác giả gửi đến cho người đọc ý nghĩa nhân sinh sâu sắc: Một trong những điều quý giá nhất của con người là được sống là mình, sống trọn vẹn với những giá trị mình có và theo đuổi. Sự sống chỉ thật sự có ý nghĩa khi con người được sống trong sự hài hòa tự nhiên giữa thể xác và tâm hồn. 2.3.3.4. Hướng dẫn HS củng cố kiến thức và chuẩn bị ở nhà * Củng cố kiến thức - Ghi nhớ nội dung bài học, nêu được chủ đề, những đặc sắc nghệ thuật của văn bản. - Phân tích bi kịch nhân vật Hồn Trương Ba. Hướng dẫn học sinh tiếp cận đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt theo đặc trưng thể loại” 15 Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2014 - 2015 - Suy nghĩ của anh chị về những vấn đề nhân sinh mà Lưu Quang Vũ đặt ra trong tác phẩm “Hồn Trương Ba da hàng thịt”. - Ý nghĩa đích thực của sự sống là gì? * Chuẩn bị ở nhà Soạn bài: Diễn đạt trong văn nghị luận. 3. Thiết kế giáo án thực nghiệm Tiết theo PPCT: 85-86-87 HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT (Trích) Lưu Quang Vũ A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT - Hiểu được bi kịch của con người khi bị áp đặt vào nghịch cảnh: phải sống nhờ, sống vay mượn, sống tạm bợ và trái với tự nhiên và vẻ đẹp tâm hồn của người lao động trong cuộc đấu tranh chống lại sự giả tạo, dung tục. - Thấy được những đặc sắc nghệ thuật của kịch Lưu Quang Vũ qua đoạn trích cụ thể. B. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG 1. Kiến thức: - Những ràng buộc mang tính tương khắc giữa thể xác và linh hồn trong một nghịch cảnh trớ trêu: Linh hồn nhân hậu thanh cao phải sống nhờ, sống tạm một cách trái tự nhiên trong một thân xác phàm tục, thô lỗ. - Cuộc đấu tranh giữa linh hồn và thể xác để bảo vệ những phẩm chất cao quý, để có một cuộc sống thực sự có ý nghĩa, xứng đáng với con người. - Sức hấp dẫn của kịch bản văn học và nghệ thuật sân khấu, tính hiện đại và giá trị truyền thống, chất trữ tình đằm thắm, bay bổng và sự phê phán quyết liệt, mạnh mẽ. 2. Kĩ năng: Đọc – hiểu kịch bản văn học theo đặc trưng thể loại. C. PHƯƠNG PHÁP VÀ HÌNH THỨC DẠY HỌC 1. Phương pháp - Sử dụng các phương pháp: đọc sáng tạo, gợi tìm, nghiên cứu dựa trên đặc trưng thể loại. - Lấy học sinh làm trung tâm, GV là người có vai trò gợi mở vấn đề, HS tích cực, chủ động, tự sáng tạo trong chiếm lĩnh tác phẩm và tham gia vào bài giảng. Phương tiện dạy học: Sách giáo khoa, sách giáo viên, giáo án. Đĩa CD vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt 2. Hình thức tổ chức dạy học - Đọc sáng tạo - Phát vấn - Thuyết trình - Thảo luận… Hướng dẫn học sinh tiếp cận đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt theo đặc trưng thể loại” 16

Sáng kiến kinh nghiệm HƯỚNG DẪN HỌC SINH TIẾP CẬN ĐOẠN TRÍCH KỊCH HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI

By : amakong2 0
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 Trường THPT Võ Trường Toản - Bài 35, trong SGK lịch sử lớp 11, giúp em hiểu thêm điều gì về tư tưởng canh tân và tác giả của bản điều trần này? Trong quá trình xây dựng hệ thống câu hỏi có liên hệ kiến thức lịch sử, GV cần lưu ý những điểm sau đây: Thứ nhất là có thể đặt câu hỏi gợi nhắc lại kiến thức lịch sử mà HS đã tìm hiểu hiểu ở lớp dưới (lớp 10), cũng có thể đặt câu hỏi để các em tìm kiếm kiến thức mới chưa học bởi chương trình của bộ môn Ngữ văn chưa có sự tương thích về mặt thời gian với chương trình môn học Lịch sử. Thứ hai là cần lựa chọn những câu hỏi thực sự có ý nghĩa trong cả việc khai thác kiến thức bài học Ngữ văn vừa nhắc lại kiến thức lịch sử mà HS đã học theo phương pháp “ôn cố tri tân” Thứ ba là đối với những bài có dung lượng câu hỏi tích hợp nhiều, GV nên sử dụng phiếu học tập dưới dạng bài tập về nhà để HS tiết kiệm thời gian ghi chép câu hỏi trên lớp mà GV cũng giảm bớt khó khăn trong việc kiểm tra việc tự học, tự liên hệ của HS. 2. Liên hệ kiến thức lịch sử để tạo hứng thú cho HS trong phần giới thiệu bài học. Sau biện pháp liên hệ kiến thức lịch sử trong và ngoài kiến thức SGK cho HS thông qua việc xây dựng hệ thống câu hỏi trong phần chuẩn bị bài ở nhà, GV có thể liên hệ trực tiếp những kiến thức đó trong phần giới thiệu bài học để tạo ấn tượng ban đầu cho HS về tác phẩm. Qua quá trình giảng dạy những tác phẩm văn học trung đại lớp 11, tôi nhận thấy có thểliên hệ kiến thức lịch sử tạo ấn tượng cho HS ngay trong lời dẫn vào bài. Trước hết cần nhận thức rằng: lời dẫn vào bài cũng đóng vai trò quan trọng trong tiến trình của một giờ dạy văn, và đặc biệt đối với những tác phẩm văn học trung đại vốn được cho là khó, khô. Có GV dùng lời dẫn vào bài để chuyển tiếp từ bài cũ sang bài mới, có người mở đầu bằng lời giới thiệu tác giả, tác phẩm, có người kiểm tra bài cũ, có người đọc diễn cảm ngay. Nhưng dù chọn cho mình cách nào GV cũng cần lưu ý phải khơi gợi sự hứng thú cho HS đồng thời tạo tâm thế cho các em trong việc tiếp nhận tác phẩm. Không phải tác phẩm văn học trung đại nào cũng sẵn có một nguồn hình ảnh, thước phim tư liệu để minh họa, bởi do những hạn chế kĩ thuật của thời đại. Càng lùi về lịch sử thì điều đó càng hiếm có, có chăng cũng chỉ là sự minh họa bằng tranh vẽ nên ít nhiều có sự dung sai. Vì vậy, đối với những tác phẩm văn học trung đại không có nhiều hoặc không có hình ảnh lịch sử minh họa thì GV nên chọn cách GV: Lê Thị Thu Phương 11 Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 Trường THPT Võ Trường Toản dẫn dắt vào bài đồng thời tích hợp kiến thức lịch sử mà các em đã học hoặc đã tự tìm hiểu để tạo ấn tượng mạnh trong phần giới thiệu bài học. Ví dụ những bài như Thu điếu của Nguyễn Khuyến, Thương vợ của Trần Tế Xương,Xin lập khoa Luật của Nguyễn Trường Tộ. Cụ thể như sau: - Ở bài thơ Câu cá mùa thu, GV bắt đầu tiết học bằng lời dẫn: “Sau phát súng xâm lược đầu tiên của thực dân Pháp tại bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng, lần lượt ba tỉnh miền Đông (1862), rồi ba tỉnh miền Tây Nam Kì (1867) bị rơi vào tay giặc trước sự bất lực, nhu nhược của triều đình nhà Nguyễn. Chỉ trong không đầy 1 năm, triều đình nhà Nguyễn đã phải kí 2 bản Hiệp ước Hác măng (1883) và Hiệp ước Patơnốt (1884). Trước thời buổi nhiễu nhương trong triều, một vị đại quan trong triều đã từ quan về ở ẩn tại quê nhà, với cảnh quê người quê những vẫn đau đáu, trăn trở về thời cuộc mà bất lực. Vị đại quan ấy không ai khác chính là nhà thơ Nguyễn Khuyến. Tâm sự về thời cuộc mà ẩn chứa lòng yêu nước kín đáo của ông được thể hiện trong bài thơ Câu cá mùa thu mà hôm nay chúng ta sẽ cùng tìm hiểu.” - Ở bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương, GV có thể dẫn vào bài như: “Trong nửa sau của thế kỉ XIX, nền kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng, tài chính cạn kiệt. Để đối phó với tình hình đó, triều đình nhà Nguyễn tăng cường bóc lột nhân dân, thậm chí áp dụng cả những biện pháp tiêu cực như: cho nộp tiền chuộc tội, cho buôn bán thuốc phiện, cho mua quan, bán tước để thu tiền. Chế độ khoa cử cũ kĩ lỗi thời cùng với nạn mua quan bán tước diễn ra công khai, trắng trợn đã khiến những người có thực tài, thực học như Trần Tế Xương tám lần đi thi nhưng chỉ một lần đỗ tú tài. Đó có phải là thói đời bạc bẽo đã khiến cho bà Tú phải khổ mà ông cất lên tiếng chửi trong bài thơ Thương vợ. Điều đó sẽ được trả lời trong tiết học hôm nay.” - Ở bài Xin lập khoa Luật của Nguyễn Trường Tộ , GV cũng có thể liên hệ kiến thức lịch sử trong lời dẫn vào bài: “Trong nửa sau thế kỉ XIX, bộ máy chính quyền triều Nguyễn từ trung ương đến địa phương trở nên sâu mọt; địa chủ cường hào tha hồ đục khoét, nhũng nhiễu dân lành. Những năm trước khi Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất, ở nước ta đã rộ lên một phong trào đề nghị cải cách. Một trong số những người đi đầu phong trào đó là Nguyễn Trường Tộ. Chính tình trạng trì trệ, bảo thủ và suy yếu nghiêm trọng của triều đình phong kiến nhà Nguyễn trước sự xâm lược của thực dân Pháp đã thôi thúc ông đề xuất việc lập khoa Luật cho đất nước. Tầm nhìn xa trông rộng và tư tưởng tiến bộ của ông sẽ là điều mà chúng ta tìm hiểu trong tiết học hôm nay qua bài “Xin lập khoa Luật.” GV: Lê Thị Thu Phương 12 Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 Trường THPT Võ Trường Toản Một kinh nghiệm rút ra trong việc liên hệ kiến thức lịch sử vào phần giới thiệu bài học là GV nên đặt các thông tin về lịch sử lên trước sau đó kết nối thông tin đó với nội dung bài học có liên quan. Và nên lưu ý, không nên gượng ép trong việc liên hệ vì nếu việc liên hệ mang tính chất khiên cưỡng không những không giúp HS hiểu thêm về lịch sử mà còn làm mất hứng thú, không đáp ứng được sự chờ đợi của các em trước một giờ học văn. 3. Liên hệ kiến thức lịch sử thông qua những hình ảnh minh họa trong phần Đọc- hiểu Trong việc đọc hiểu tác phẩm văn học trung đại, ngoài nhưng nội dung thông tin trong và ngoài văn bản thì việc giới thiệu và cung cấp cho HS những hình ảnh minh họa cũng không kém phần quan trọng. Bởi “trăm nghe không bằng một thấy”, phải “đích mục sở thị” mới củng cố thêm niềm tin, giúp các em hình dung và có những cảm nhận sâu sắc hơn về tác phẩm. GV nên bổ sung hình ảnh tư liệu thuộc lĩnh vực lịch sử vào bài giảng để HS có vốn tri thức rộng khi tiếp nhận. Hơn nữa, HS tiếp nhận kiến thức qua tranh ảnh, hình ảnh trực quan kết hợp với SGK và các tài liệu tham khảo sẽ nhớ lâu và hứng thú hơn. Để việc khai thác nguồn tư liệu này có hiệu quả, phát huy tính tích cực của HS, GV cần nghiên cứu kĩ mục tiêu và nội dung của từng tư liệu trong bài học, tư liệu thuyết minh hình ảnh. GV có thể tận dụng sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, trình chiếu kênh hình sẽ có ưu thế hơn vì HS được trực quan với hình ảnh rõ, kích thước lớn, màu sắc sinh động và ấn tượng hơn. Tuy nhiên, trong phạm vi cho phép, sáng kiến kinh nghiệm chỉ thể hiện hình ảnh minh họa cho một số tác phẩm văn học trung đại trong chương trình lớp 11. Cụ thể như sau: * Ở bài Vào phủ chúa Trịnh của Lê Hữu Trác: Ở bài này, GV cho HS quan sát hình ảnh minh họa cho hai buổi thiết triều của vua Lê và Chúa Trịnh và đặt câu hỏi đây là hình ảnh nào? Em hãy quan sát và so sánh hai hình ảnh này về mức độ quy mô? Sở dĩ GV đặt câu hỏi này là bởi hai hình ảnh này được lấy trong SGK lịch sử lớp 10 các em mới được tìm hiểu không lâu. Từ đó HS dễ dàng so sánh được quy mô, sự long trọng, sang trọng đầy đủ ban bệ ở phủ Chúa không kém gì ở cung vua. Điều đó giúp HS hiểu thêm sự lộng quyền, lấn át cả cung vua Lê của chúa Trịnh. GV: Lê Thị Thu Phương 13 Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 Trường THPT Võ Trường Toản B uổi thiết triều của chúa Trịnh Buổi thiết triều của vua Lê *Ở bài Vịnh khoa thi Hương của Trần Tế Xương, GV nên giới thiệu khung cảnh trường thi, hình ảnh Lễ xướng danh khoa thi Đinh dậu. Hình ảnh trường thi ngày xưa Các sĩ tử xem bảng danh sách những người thi đỗ Trường Hà Nam, khoa Đinh dậu 1897 GV: Lê Thị Thu Phương 14 Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 Trường THPT Võ Trường Toản (Cổng Tiền Môn) (Cổng Tiền Môn) Dân chúng chen lấn nhau đi Toàn quyền P.Doumer chứng kiến xem lễ xướng danh lễ xướng danh Xướng danh trường Hà Nam (27/12/1897) Các quan mặc triều phục, theo thứ tự phẩm trật, ngồi ghế tréo ở hai bên con đường đi từ Cổng Tiền Môn dẫn vào nhà Thập Đạo GV: Lê Thị Thu Phương 15 Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 Trường THPT Võ Trường Toản (Trường Hà-nam 27/12/1897) (Tân khoa ngồi đợi hoàn tất lễ Xướng danh Sau khi trình diện các Khảo quan, ông Cử mới đượcdẫn đến chiếu ngồi trong một cái rạp dựng trước nhà Thập đạo. Ông Thủ Khoa, cũng gọi là Giải nguyên hay Hương nguyên, ngồi trên chiếc chiếu hoa cạp điều đầu hàng lẻ, ông Á nguyên ngồi trên chiếc chiếu đầu hàng chẵn.) * Ở bài Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) Quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định (17/2/1859) GV: Lê Thị Thu Phương Liên quân Pháp - Tây Ban Nha tấn công bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), ngày 1-9-1858 16

Sáng kiến kinh nghiệm TÍCH HỢP KIẾN THỨC LỊCH SỬ VÀO GIẢNG DẠY TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI LỚP 11

By : amakong2 0
Một số kinh nghiệm về lồng ghép giáo dục đạo đức học sinh thông qua môn Ngữ văn tại trường THCS-THPT Tây Sơn .. VI/ TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. SGK Ngữ văn 6,7,8,9-NXB GD 2. SGV Ngữ văn 6,7,89-NXB GD 3. Tài liệu tích hợp giáo dục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong môn Ngữ văn THCS 4. Phương pháp dạy học môn ngữ văn THCS- NXB GD GV: Nguyễn Đình Hoàng Trang 11

Sáng kiến kinh nghiệm ỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ LỒNG GHÉP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH THÔNG QUA MÔN NGỮ VĂN TẠI TRƯỜNG THCSTHPT TÂY SƠN

By : amakong2
Thứ Ba, 5 tháng 7, 2016
0
Hc sinh lp 12B3 trỡnh by c hiu on truyn Rng X Nu Hc sinh hc tp ho hng trong gi c hiu vn bn. 11 Giỏo viờn Chõu Th Hng Hoa hng dn hc sinh lp 11C12 c hiu vn bn Ch ngi t tự ỏp dng sỏng kin kinh nghim Hc sinh lp 11 t tin trỡnh by c hiu vn bn. 12 + Hc sinh tham gia xõy dng bi bỡnh thng theo tin trỡnh chung, n phn c hiu c th cn i sõu thỡ hc sinh trỡnh by phn bi ó chun b, c lp tham gia tho lun, rỳt ra nhng vn c bn ca bi hc di s ch o ca giỏo viờn nhp nhng cho n ht bi. ( Vi tit u giỏo viờn cú th cho nhúm t chn ngi trỡnh by. Dn v sau giỏo viờn gi ngu nhiờn... buc tt c hc sinh phi t hiu, t rốn k nng trỡnh by nhng hiu bit v vn bn. Ch khi hc sinh t tỡm hiu, t trỡnh by c nhng hiu bit cm th ca mỡnh v vn bn, on vn, th ... thỡ vic c hiu tỏc phm vn hc mi thc s cú hiu qu ) D. HIU QU CA TI - Thc hin ti tụi nhn thy , giỏo viờn chun b vt v hn nhng hc sinh nng ng sỏng to hn, ho hng trong gi hc hn nh bi lõu hn, lm vn chun xỏc hn. Cht lng hc tp ca hc sinh tin b rừ rt .S lng hc sinh t im khỏ gii tng cao qua tng hc k Sau õy l bng thng kờ cht lng ging dy ca khi 12 nm 2013-2014, 2014 -2015 cho thy rừ hiu qu. 1. Cỏc lp trc tip ging dy a. Nm hc 2013-2014 Hc K 1 12A1 12A 12 3 8 3 8 0 0.00 0 0.00 0 0.00 38 100.00 7 18.42 25 65.79 6 15.79 0 0.00 0 0.00 0 0.00 38 100.00 9 23.68 24 63.16 5 13.16 Hc K 2 12A1 38 0 0.00 0 0.00 0 0.00 38 100.00 9 23.68 21 55.26 8 21.05 12A 12 38 0 0.00 2 5.00 2 5.26 36 94.74 11 28.95 20 52.63 5 13.16 b. Nm hc 2014-2015 Hc K 1 12B1 37 0 0.00 3 7.89 13 34.21 15 39.47 7 18.42 13 34.21 12B12 38 0 0.00 0 0.00 10 26.32 18 47.37 10 26.32 10 26.32 13 Hc K 2 12B1 12B12 3 7 3 8 0 0.00 0 0.00 0 0.00 0 0.00 37 100.00 7 18.92 15 40.54 15 40.54 0 0.00 0 0.00 38 100.00 1 2.63 19 50.00% 18 47.37 2. Chung ton khi 12 a. Nm hc 2013-2014 Hc k 1 : 12A1 38 0 0.00 0 0.00 0 0.00 38 12A2 40 0 0.00 0 0.00 0 0.00 40 12A3 40 0 0.00 1 3.00 1 2.50 39 12A4 40 0 0.00 0 0.00 0 0.00 40 12A5 40 0 0.00 0 0.00 0 0.00 40 12A6 40 0 0.00 0 0.00 0 0.00 40 12A7 40 0 0.00 0 0.00 0 0.00 39 12A8 39 0 0.00 1 3.00 1 2.56 38 12A9 40 0 0.00 0 0.00 0 0.00 40 12A10 40 0 0.00 0 0.00 0 0.00 40 12A11 38 0 0.00 0 0.00 0 0.00 38 12A12 38 0 0.00 0 0.00 0 0.00 38 TNG 47 3 0 0.00 2 0.42 2 0.42 470 100.0 0 100.0 0 97.50 7 18.42 25 65.79 6 15.79 10 25.00 21 52.50 9 22.50 9 22.50 21 52.50 9 22.50 100.0 0 100.0 0 100.0 0 100.0 0 97.44 11 27.50 25 62.50 4 10.00 15 37.50 23 57.50 2 5.00 14 35.00 22 55.00 4 10.00 15 37.50 18 45.00 6 15.00 10 25.64 18 46.15 10 25.64 100.0 0 100.0 0 100.0 0 100.0 0 99.37 12 30.00 24 60.00 4 10.00 17 42.50 22 55.00 1 2.50 17 44.74 16 42.11 5 13.16 9 23.68 24 63.16 5 13.16 146 30.87 259 54.76 65 13.74 9 23.68 21 55.26 8 21.05 14 35.00 16 40.00 9 22.50 Hc K 2 : 12A1 38 0 0.00 0 0.00 0 0.00 38 12A2 40 0 0.00 1 3.00 1 2.50 39 100.0 0 97.50 14 12A3 40 0 0.00 1 3.00 1 2.50 39 97.50 17 42.50 12 30.00 10 25.00 12A4 40 0 0.00 0 0.00 0 0.00 40 9 22.50 23 57.50 8 20.00 12A5 40 0 0.00 3 8.00 3 7.50 37 100.0 0 92.50 15 37.50 15 37.50 7 17.50 12A6 40 1 2.50 1 3.00 2 5.00 38 95.00 10 25.00 18 45.00 10 25.00 12A7 39 0 0.00 3 8.00 3 7.69 36 92.31 11 28.21 16 41.03 9 23.08 12A8 39 0 0.00 2 5.00 2 5.13 36 92.31 9 23.08 14 35.90 13 33.33 12A9 40 0 0.00 2 5.00 2 5.00 38 95.00 15 37.50 15 37.50 8 20.00 12A10 40 0 0.00 1 3.00 1 2.50 39 97.50 12 30.00 22 55.00 5 12.50 12A11 38 0 0.00 2 5.00 2 5.26 36 94.74 19 50.00 12 31.58 5 13.16 12A12 38 0 0.00 2 5.00 2 5.26 36 94.74 11 28.95 20 52.63 5 13.16 TNG 472 1 0.21 18 3.81 19 4.03 452 95.76 151 31.99 204 43.22 97 20.55 b. Nm hc 2014-2015 Hc k 1 : 12B1 0 0.00 3 7.89 13 34.21 15 39.47 7 18.42 13 34.21 12B2 1 2.56 7 17.95 16 41.03 14 35.90 1 2.56 16 41.03 12B3 0 0.00 1 2.63 17 44.74 15 39.47 5 13.16 17 44.74 12B4 1 2.56 1 2.56 15 38.46 17 43.59 5 12.82 15 38.46 12B5 0 0.00 1 2.56 21 53.85 16 41.03 1 2.56 21 53.85 12B6 2 5.26 2 5.26 14 36.84 18 47.37 2 5.26 14 36.84 12B7 2 5.13 2 5.13 16 41.03 17 43.59 2 5.13 16 41.03 12B8 1 2.70 3 8.11 17 45.95 15 40.54 1 2.70 17 45.95 12B9 0 0.00 2 5.26 20 52.63 14 36.84 2 5.26 20 52.63 12B10 0 0.00 1 2.63 17 44.74 15 39.47 5 13.16 17 44.74 12B11 1 2.70 1 2.70 14 37.84 15 40.54 6 16.22 14 37.84 12B12 0 0.00 0 0.00 10 26.32 18 47.37 10 26.32 10 26.32 TC 8 1.75 24 5.24 190 41.48 189 41.27 47 10.26 190 41.48 15 Hc K 2 : 12B1 37 0 0.00 0 0.00 7 18.92 15 40.54 15 40.54 12B2 38 0 0.00 0 0.00 9 23.68 18 47.37 11 28.95 12B3 38 0 0.00 2 5.26 6 15.79 17 44.74 13 34.21 12B4 39 0 0.00 1 2.56 9 23.08 22 56.41 7 17.95 12B5 39 1 2.56 1 2.56 6 15.38 22 56.41 9 23.08 12B6 37 0 0.00 1 2.70 3 8.11 23 62.16 10 27.03 12B7 39 0 0.00 1 2.56 8 20.51 27 69.23 3 7.69 12B8 37 0 0.00 0 0.00 5 13.51 20 54.05 12 32.43 12B9 38 0 0.00 0 0.00 10 26.32 17 44.74 11 28.95 12B10 38 0 0.00 1 2.63 8 21.05 18 47.37 11 28.95 12B11 36 0 0.00 0 0.00 2 5.56 21 58.33 13 36.11 12B12 38 0 0.00 0 0.00 1 2.63 19 50.00 18 47.37 Tng 454 1 2.56 7 1.54 74 16.30 239 52.64 133 29.3 E. XUT KIN NGH KH NNG P DNG Cn c vo hiu qu thc t trong quỏ trỡnh ỏp dng ging dy cỏ nhõn cựng giỏo viờn t vn THPT Long khỏnh v mt s ng nghip khỏc , tụi nhn thy cú th ỏp dng rng rói trong vic dy v hc cỏc gi c vn bn vn hc trong trng THPT , c bit cú hiu qu trong ụn thi THPT mụn Ng vn . G. DANH MC TI LIấU THAM KHO 1. Phng phỏp c hiu vn bn ( ThS. Phm Th Thu Hin V Giỏo dc trung hc, B GD-T) 2. ỏnh giỏ nng lc c hiu ca hc sinh - Nhỡn t yờu cu ca PISA ( Ngc Thng) 3. T ging vn qua phõn tớch tỏc phm n dy hc c hiu vn bn Vn hc , giỏo s Trn ỡnh S 4. Sỏch giỏo khoa Ng vn 10, 11,12 H. PH LC 16

Sáng kiến kinh nghiệm MỘT VÀI KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC HIỆU QUẢ ( BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG )

By : amakong2 0
Dạy văn học sử - khó nhưng dễ. Trang 11 - Mục đích yêu cầu của hệ thống câu hỏi tốt trong giờ đọc – hiểu văn bản lịch sử Văn học:  Về kiến thức: Giúp học sinh hình thành và tích lũy hệ thống tri thức, nắm được nội dung trọng tâm của bài học và có thể nâng cao sự hiểu biết của mình về kiến thức bên ngoài.  Về kĩ năng: Giúp học sinh rèn luyện được kĩ năng, năng lực cảm thụ tư duy sáng tạo (đọc sách giáo khoa, phát hiện luận điểm, lập dàn ý, minh họa…)  Về thái độ: Giáo dục tư tưởng tình cảm cho học sinh (về truyền thống yêu nước, về chủ nghĩa nhân văn…) - Các loại câu hỏi thường sử dụng trong giờ đọc hiểu văn bản lịch sử Văn học: Trong giờ đọc hiểu văn bản lịch sử văn học thường sử dụng các loại câu hỏi sau: câu hỏi tái hiện, câu hỏi phát hiện, câu hỏi phân tích – khái quát, câu hỏi phân tích – minh họa, câu hỏi so sánh – khái quát… Giúp học sinh phát huy được đầy đủ năng lực cảm thụ và trí tuệ, tạo sự hứng thú và phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong giờ học. - Yêu cầu cần phải có để đảm bảo hệ thống câu hỏi tốt trong giờ đọc – hiểu văn bản lịch sử Văn học:  Phải đề cao hoạt động chủ thể của học sinh dưới sự định hướng của giáo viên.  Trong giờ văn học sử nhưng phải đảm bảo được tính tích hợp kiến thức văn.  Hệ thống câu hỏi phải vừa sức, đúng trọng tâm, hướng tới kiến thức cơ bản, phù hợp với từng đối tượng ( câu hỏi tái hiện).  Câu hỏi phải phù hợp với từng kiểu bài, đặt học sinh vào những tình huống có vấn đề để gợi mở cho học sinh giải quyết. Câu hỏi trước làm tiền đề cho câu hỏi sau, câu hỏi sau làm rõ hơn vấn đề khái quát được đặt ra từ ban đầu (câu hỏi nêu vấn đề).  Câu hỏi phải có mối liên hệ để rèn luyện kĩ năng so sánh đối chiếu.  Câu hỏi phải khoa học, sáng rõ, không vụn vặt, đa dạng, lôi cuốn học sinh. Ví dụ minh họa: Hệ thống câu hỏi cho bài tác gia Nam Cao. - Nêu những nét chính trong cuộc đời Nam Cao? (quê hương, gia đình, bạn thân…)  Câu hỏi tái hiện. - Theo các em những yếu tố chính trong cuộc đời đã ảnh hưởng đến con người và sáng tác của Nam Cao?  Câu hỏi so sánh, phân tích - minh họa. - Em nào có thể kể tên những tác phẩm của Nam Cao trước cách mạng tháng Tám? Em có nhận xét gì về đề tài trong sáng tác của ông?  Câu hỏi tái hiện, phát hiện. Dạy văn học sử - khó nhưng dễ. Trang 12 - Trước cách mạng tháng Tám đời sống xã hội có ảnh hưởng gì đến sáng tác của Nam Cao?  Câu hỏi so sánh, phân tích - minh họa. - Sau Cách mạng tháng Tám, sáng tác của Nam Cao có nội dung gì?  câu hỏi tái hiện. 3. Giải pháp 3: Sử dụng phương pháp diễn giảng. - Hoạt động dạy học trong bất cứ hình thức nào người giáo viên cũng giữ vai trò chủ đạo, là người truyền thụ kiến thức cho học sinh và hướng dẫn cho học sinh cách học tốt nhất. Một bài văn học sử thường chứa đựng những mệnh đề khái quát, các trí thức minh học cơ bản và tiêu biểu. Mỗi tri thức là một sự khái quát trên các bình diện khác nhau, chứa đựng bao nhiêu khái niệm cần giải thích, nhiều định nghĩa phải minh họa, nhiều mối quan hệ logic trong câu cần phân tích và giải thích. Vì vậy, dùng phương pháp diễn giảng là phù hợp nhất đối với một bài văn học sử. Đây là phương pháp truyền thống và phổ biến hiện nay. - Cách thực hiện:  Giáo viên phân tích, trình bày các tri thức kết hợp với ghi bảng, còn học sinh thì nghe, hiểu và ghi chép vào vở riêng.  Giáo viên sử dụng phương pháp diễn giảng có thể thực hiện phương pháp này theo hai cách sau:  Diễn giảng theo hình thức quy nạp, tức là đi từ các hiện tượng văn học sử đến nhận định văn học sử.  Diễn giảng theo hình thức diễn dịch, tức là đi từ nhận định văn học sử đến các hiện tượng văn học sử. Hoặc có thể kết hợp cả hai hình thức trên. Ví dụ: Trong bài tác gia Xuân Diệu ở chương trình Ngữ Văn 11 có nhận định rằng: “ Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong tất cả các nhà thơ mới ” ( Hoài Thanh ). Để giúp cho học sinh hiểu được nhận định trên, giáo viên có thể áp dụng phương pháp diễn giảng theo hình thức diễn dịch về các vấn đề sau: Đặc điểm nội dung và nghệ thuật thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám, sau đó đưa ra một vài tác phẩm tiêu biểu của ông ở giai đoạn này để chứng minh cho sự đổi mới về nội dung và nghệ thuật trong thơ ca ông.  Diễn giảng phải dựa vào sách giáo khoa nhưng không phải là đọc, là chép sách giáo khoa hay nói lại theo sách giáo khoa mà là giảng giải, minh họa để giúp học sinh hiểu sách giáo khoa, hiểu các khái niệm, nhận định và dẫn chứng. Đây là một thách thức đối với giáo viên đứng lớp. Bởi không chỉ đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức sâu rộng về nhiều vấn đề tích hợp, mà còn phải có kĩ năng chọn lựa phương cách phù hợp vấn đề, kết hợp cách pân tích, bình luận… Dạy văn học sử - khó nhưng dễ. Trang 13  Phải đảm bảo tính truyền cảm để bài giảng có sức thu hút, tránh sự nhàm chán đối với người nghe. Ví dụ: Khi dạy kiểu bài Khái quát về văn học dân gian, nhất là ca dao – dân ca, giáo viên nên sáng tạo trong việc giảng dạy ở chỗ hát dân ca. Có thể cho học sinh hát một vài câu dân ca nào đó…Còn đối với truyện cổ tích, truyền thuyết nên sáng tạo ở chỗ diễn, đóng kịch… Khi dạy kiểu bài khái quát về tác giả, giáo viên nên kể học sinh nghe những giai thoại, những câu chuyện kể liên quan đến tác giả đó.  Khi diễn giảng, giáo viên cần phải bảo đảm một số yêu cầu cơ bản sau:  Đảm bảo tính khoa học chính xác nội dung trình bày. Lí lẽ nêu ra có tính thuyết phục và được trình bày một cách hợp lí.  Ngôn ngữ diễn giảng phải mẫu mực: đúng chuẩn, trong sáng, bảo đảm tính giáo dục, âm thanh, nhịp điệu phải vừa phải.  Thái độ, cử chỉ của giáo viên phải mẫu mực. Tuyệt đối tránh lối phô trương, sáo rỗng hoặc gắt gỏng học sinh. Trong khi trình bày, giáo viên không nên có những động tác thừa, tránh đi lại trong lớp. - Lưu ý: Vì đây là phương pháp dạy học văn truyền thống mang nặng bản chất tái hiện, nên sẽ có những ưu điểm và hạn chế riêng của nó.  Ưu điểm: Tiết kiệm được thời gian. Có khả năng trình bày tri thức một cách có hệ thống, kết hợp được tính logic và tính truyền cảm, nếu biết lựa chọn những dẫn chứng tiêu biểu, chân thực, sinh động, có giọng nói, nét mặt, cử chỉ phù hợp với nội dung truyền đạt… Nếu biết vận dụng phương pháp diễn giảng “ nêu vấn đề ”, biết nêu các câu hỏi kích thích sự động não của học sinh thì diễn giảng vẫn phát huy tác dụng tốt. Thông qua hệ thống bài giảng của giáo viên, học sinh nắm bài một cách có hệ thống, hiểu nhanh vấn đề.  Nhược điểm: Học sinh thụ động trong quá trình lĩnh hội kiến thức và dễ gây tâm lí nhàm chán, mệt mỏi và không thích học văn. Phương pháp diễn giảng mang đậm dấu ấn cá nhân, nếu không ý thức được mức độ diễn giảng thì giáo viên sẽ trở thành người lấn át hay nói lạc tiếng nói của nhà văn. Diễn giảng dễ sa vào suy diễn nếu thiếu căn cứ và không xác định trọng tâm cần diễn giảng trước và sẽ không truyền đạt một cách hệ thống và logic kiến thức của bài học. Nếu không nắm được phương pháp, giáo viên sẽ rơi vào độc giảng, quên mất sự phối hợp với học sinh. Bí quyết cá nhân: Để cho phương pháp này phát huy một cách có hiệu quả nhất, giáo viên có thể kết hợp diễn giảng với việc sử dụng công nghệ thông tin như: Sử dụng hình ảnh trực quan (hình ảnh tác giả, tác phẩm, minh họa cho các chi tiết trong tác phẩm), âm nhạc (nhạc nền, những bài hát liên quan đến tác phẩm), đoạn phim trong bài trình chiếu. Hiệu ứng phông chữ: in đậm, tô màu, chữ to tạo hiệu ứng cho những nội dung kiến thức quan trọng. Dạy văn học sử - khó nhưng dễ. Trang 14 Ví dụ: Khi dạy bài Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX trong sách văn học 10, tập 1, tôi thường làm như sau: + Với mục các giai đoạn phát triển của văn học: Đây là một phần khá dài, tổng hợp nhiều kiến thức của các phân môn khác nhau. Để giúp học sinh không bị nhàm chán về dung lượng kiến thức khô khan, ở mỗi một giai đoạn phát triển, tôi sẽ đưa ra những tranh ảnh minh họa về hoàn cảnh lịch sử của giai đoạn đó: ví dụ ảnh những chiếc cọc gỗ trên sông Bạch Đằng và hỏi học sinh: “Em có biết về hình ảnh này không? Trận chiến này có vai trò quan trọng như thế nào đối với lịch sử của đất nước và đã tác động như thế nào đến đời sống văn học thời kì đó?”………… Hàng nghìn cây gỗ lim, sến đầu được vạt nhọn và bịt sắt cắm xuống sông thành những hàng dài chắc chắn, đầu cọc hướng chếch về phía nguồn Trang 15 Dạy văn học sử - khó nhưng dễ. Bãi cọc Bạch Đằng được phát hiện tại xã Yên Giang, Quảng Ninh + Đối với mục nội dung của văn học thời kì này, khi tìm hiểu về cảm hứng yêu nước, tôi sẽ minh họa cho học sinh xem ảnh chiếu đời đô. Sau đó đặt câu hỏi: “Em có biết Chiếu dời đô là của ai không? Chiếu dời đô thể hiện được nội dung gì của văn học thời kì này?...”. Giáo viên có thể giảng thêm cho học sinh hiểu về ý nghĩa của Chiếu dời đô: Nền tảng của Chiếu dời đô là tư tưởng vì nước, vì dân. Chính vì lẽ ấy mà nói rằng, Chiếu dời đô tràn đầy ý nghĩa văn hóa truyền thống. Việc lựa chọn Thăng Long làm kinh đô nước Việt sẽ góp điều kiện quyết định sự phát triển văn hóa dân tộc trên những tầng cao. Muốn cho văn hóa dân tộc phát triển lên những tầng cao thì trước hết phải bảo vệ độc lập lâu dài vững chắc. Chiếu dời đô đòi hỏi phải chọn đất kinh kỳ đủ điều kiện thiên nhiên để phòng thủ và đủ điều kiện nhân sinh để xã hội không ngừng tiến bộ. Sự phối hợp giữa thiên nhiên và nhân sinh sẽ tạo ra đủ các yếu tố cần thiết để cho nước nhà cường thịnh "muôn đời", để cho nhân dân thoát khỏi cái khổ "tối tăm". Chiếu Dời Ðô “Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần đời đô; nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô. Phải đâu các vua thời Tam Ðại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời? Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi. Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi. Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không đổi dời. Dạy văn học sử - khó nhưng dễ. Trang 16 Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: ở vào nơi trung tâm trời đất; được thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp nước Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời. Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào?” 4. Giải pháp 4: Dạy văn học sử theo hướng tích hợp liên môn. - Chưa ở đâu sự tích hợp sâu xa bền vững, sự liên ngành, liên môn cùng một lúc xuất hiện hài hòa như trong dạy học Văn học sử. “Xã hội nào văn học ấy”. Từ cơ sở triết học, tư tưởng lưu hợp với lịch sử kéo theo một luồng Mĩ học vừa hội tụ vừa chi phối các ngành nghệ thuật tương ứng. Dạy học Văn học sử thực chất là dạy học một cách nhìn nhận, phân tích, tổng hợp vấn đề từ tư liệu của Lịch sử văn học được xử lý theo quan niệm Triết học và Mĩ học cá nhân của mỗi thành viên khi bừng phát theo sự kích thích, khơi gợi của người dạy. Điều này không phải thầy dạy mới có, mà trên cơ sở hoạt động dạy học những năng lực phân tích, khái quát, tổng hợp đã “mai phục sẵn” ở người học sinh được phát triển. - Điều quan trọng nhất của dạy học Văn học sử là phải lý giải được mối quan hệ biện chứng và lịch sử của các hiện tượng văn học từ tổng hợp khái quát đến cụ thể. Vì sao Văn học dân gian Việt Nam lại gắn với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc sâu sắc như vậy? Vì sao những tư tưởng triết học dân chủ của cha ông in đậm nét trong văn học truyền miệng của dân tộc? Học sinh phải tự hiểu được rằng trong chế độ quân chủ chuyên chế, “khi một dân tộc bị mất dân quyền và nhân quyền, thì văn học là diễn đàn duy nhất để dân tộc đó thể hiện tâm hồn và tư tưởng của mình” (Gherxen). Vì sao tư tưởng Phật, Lão lại được lưu hợp nhuần nhuyễn với chủ nghĩa yêu nước trong thơ Lý, Trần?... Vì sao giai đoạn lịch sử Lê mạt – Nguyễn sơ vấn đề số phận con người với tự do công bằng lại đặt ra một cách dữ dằn như vậy? Vì sao các trào lưu văn học giai đoạn 1930-1945 lại phát triển đăc biệt như vậy? Điểm khác nhau cơ bản giữa văn học trung đại và hiện đại, giữa văn học trước và sau 1975?... Nếu không hiểu được những vấn đề khái quát tối thiểu thì dù tư liệu có phong phú đến đâu cũng không thể giải quyết tốt những vấn đề cụ thể của việc phân tích tác phẩm sau này. Vấn đề phát triển kĩ năng phân tích, tổng hợp, khái quát là vô cùng quan trọng trong dạy học Văn học sử. Thông tin về Kinh tế, Chính trị, Tôn giáo, các hiện tượng văn học, …các hình thái ý thức khác…cũng quan trọng. Nhưng quan trọng hơn là xử lý được các thông tin trong mối quan hệ giữa chúng với nhau và với hạ tầng cơ sở. Và cũng không thể không lý giải những nét riêng đặc thù của văn học so với các hình thái ý thức thuộc kiến trúc thượng tầng khác. Mối quan hệ với các dòng Thiền Trúc Lâm, Quan Bích, Nam Phương của thơ ca Lý Trần, chất sám hối để linh hồn con người được cứu rỗi trong văn chương của Nguyên Hồng, Nam Cao, Hàn Mặc Tử … các nhà văn nhà thơ theo dạo Thiên Chúa. - Với thời kì văn học rất cần phân tích sự biến động của Lịch sử, của Triết học, Mĩ học, Tôn giáo, Kinh tế, Chính trị.. trong suốt một thời kì lịch sử dài đằng đẵng kéo

Sáng kiến kinh nghiệm DẠY VĂN HỌC SỬ KHÓ NHƯNG DỄ

By : amakong2 0
Sáng Kến Kinh Nghiệm: “TÍNH LIÊN VĂN BẢN TRONG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI VĂN THPT” Giải pháp 2: Cảm thụ tác phẩm văn học từ góc nhìn so sánh 3.2.1. Khái luận chung: Tính liên văn bản cũng đem đến cho việc tìm hiểu tác phẩm văn học từ góc nhìn so sánh. Bởi vì như R. Barthes đã cho rằng: “Mọi văn bản đều là liên văn bản với một văn bản khác, nhưng không nên hiểu theo kiểu là văn bản có một nguồn gốc nào đó, mọi sự tìm kiếm cội nguồn và ảnh hưởng là phù hợp với huyền thoại về quan hệ huyết thống của tác phẩm, văn bản thì được tạo nên từ những trích đoạn vô danh, không nắm bắt được, nhưng thực sự đã từng được đọc…”. Bất kỳ một văn bản nào cũng được hiểu như một không gian đa chiều, nơi có rất nhiều văn bản va đập và xáo trộn vào nhau mà không một cái nào là gốc cả. Chính vì vậy mà khi đọc một văn bản văn học, khi nghiên cứu về một vấn đề văn học nào đó, chúng ta hay có sự liên tưởng đến những tác phẩm khác, tác giả khác, hay cũng có thể tác phẩm đó gợi nhớ về một cuốn phim, một bức họa…Và tất nhiên, trong miền liên tưởng đó sẽ có sự so sánh để tìm ra những nét tương đồng hay khác biệt, để tìm ra sự sáng tạo độc đáo của người đến sau và khẳng định sự đóng góp của họ cho nền văn học dân tộc. Trong một bài văn của học sinh giỏi, rất cần thiết có sự liên hệ mở rộng giữa tác phẩm này với tác phẩm khác, giữa tác giả này với tác giả khác, giữa nhân vật này với nhân vật khác… Có thể mở rộng sự so sánh giữa hai giai đoạn văn học, so sánh để làm rõ sự ảnh hưởng của nền văn học giữa các nước… Có như vậy thì bài viết của học sinh giỏi mới thể hiện được kiến thức sâu rộng của mình và còn tạo nên sự thuyết phục cao đối với người đọc. Đề thi học sinh giỏi đã từ lâu đều có dạng so sánh, có khi ở dạng ẩn, nhưng có khi thao tác so sánh được nêu ra trong đề một cách rõ nét. Trong bốn, năm năm trở lại đây, đề thi tốt nghiệp, đại học cũng xuất hiện nhiều dạng đề so sánh. Và đặc biệt, trong đề thi THPT Quốc Gia năm nay (2015-2016), rất chú trọng về dạng đề so sánh ở câu nghị luận văn học. Điều đó cho ta thấy sự cần thiết của việc áp dụng tính liên văn bản từ góc nhìn so sánh trong giảng dạy Ngữ Văn nói chung, trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng. III.2. 3.2.2. Ví dụ minh họa: Đề thi học sinh giỏi tỉnh năm 2008-2009 lớp 12, câu 12 điểm như sau: Giáo viên Thực hiện: NGUYỄN THỊ KIM HUY - Trường THPT Lê Hồng Phong Trang: 11 Sáng Kến Kinh Nghiệm: “TÍNH LIÊN VĂN BẢN TRONG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI VĂN THPT” “Sự gặp gỡ tuyệt đẹp của tâm hồn và khí phách Việt Nam giữa Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu) và bài thơ Tây Tiến (Quang Dũng)”. Ở đề trên yêu cầu so sánh thể hiện rõ nét. Nhưng ở đây, chủ yếu làm rõ “sự gặp gỡ tuyệt đẹp”, nói ít về nét khác nhau. Để giải quyết đề này, ngoài kiến thức lịch sử, văn hóa, xã hội khi ra đời hai tác phẩm; kiến thức cơn bản về hai tác phẩm được yêu cầu, học sinh phải được bồi dưỡng kĩ năng so sánh, tổng hợp cả một chiều dài tiến trình lịch sử văn học dân tộc. Cùng là những sáng tác ra đời trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp, nhưng hai bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (1861 - Nguyễn Đình Chiểu) và bài thơ Tây Tiến (1948 - Quang Dũng) cách nhau gần cả thế kỉ. Nguyễn Đình Chiểu là nhà nho, nhà thơ yêu nước. Sáng tác của ông ngợi ca cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta chống bọn xâm lược phương Tây ngay buổi đầu lúc chúng vừa đặt chân lên đất nước. Câu thơ trong bài Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu đã cho ta thông điệp này : “Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây. Một bàn cờ thế phút sa tay…” . Còn bài thơ Tây Tiến (Quang Dũng) được viết từ tâm hồn của một người lính hào hoa, lãng mạn với hồn thơ phóng khoáng, đậm chất lính. Bài thơ được viết vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, khi đang tiến gần đến chiến thắng Điện Biên Phủ, khép lại thời kì chống Pháp oanh liệt của dân tộc. Dù cả hai nhà thơ đều khắc họa hình tượng người lính với xuất thân lai lịch khác nhau, nhưng đều đã thành công khi vẽ nên nét đẹp tâm hồn và khí phách Việt Nam, một vẻ đẹp vượt thời gian làm nên tầm vóc một dân tộc. Vẻ đẹp đó gặp nhau ở lí tưởng sống cao đẹp: “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”, ““một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất mà tiếng vang như mõ…chẳng qua là dân ấp, dân lân vì mến nghĩa làm dân chiêu mộ…”; ở tấm lòng vì nghĩa lớn; ở tinh thần hiên ngang, kiên cường trên trận tuyến, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, ở vẻ đẹp bi tráng, kiêu hùng vượt lên cả những khó khăn, hiểm nguy luôn đe dọa… Đề thi học sinh giỏi tỉnh năm 2002-2003 lớp 12 chỉ một câu như sau: “Phân tích sự trùng hợp tuyệt đẹp trong cảm hứng về hình tượng đất nước và những sắc thái riêng biệt của mỗi hồn thơ qua hai tác phẩm “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm và “Đất Nước” của Nguyễn Đình Thi.” Giáo viên Thực hiện: NGUYỄN THỊ KIM HUY - Trường THPT Lê Hồng Phong Trang: 12 Sáng Kến Kinh Nghiệm: “TÍNH LIÊN VĂN BẢN TRONG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI VĂN THPT” Với đề này thì thao tác so sánh đã được nêu ra một cách rõ ràng: “sự trùng hợp tuyệt đẹp” và “ những sắc thái riêng biệt”. Để giải quyết đề này yêu cầu học sinh phải có kiến thức về thơ ca yêu nước thời kì kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954). Bởi cả hai tác giả, tác phẩm được nêu trong đề cùng một thời kì sáng tác. Kiến thức về hai tác giả, hai bài thơ và một số bài thơ khác cùng thời. Quan trọng là học sinh làm rõ được sự giống nhau trong cảm hứng viết về hình tượng Đất Nước và khác nhau của mỗi hồn thơ trong cách cảm nhận về đất nước. Đồng thời phải lí giải một cách thuyết phục. Vậy, ngoài kiến thức căn bản về hai nhà thơ, hai tác phẩm, thời kì văn học, học sinh phải có năng lực tư duy, năng lực tổng hợp kiến thức để so sánh và rút ra những nhận định đúng đắn. Khi dạy bồi dưỡng cho học sinh, giáo viên cần cung cấp các em những kiến thức về các tác phẩm khác trước và sau Hoàng Cầm và Nguyễn Đình Thi cùng viết về đề tài đất nước. Văn học trung đại thì có bài Nam Quốc Sơn Hà (Lí Thường Kiệt), Vận nước ( Nguyễn Trường Tộ), Bình Ngô Đại Cáo (Nguyễn Trãi), Văn tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)… Văn học hiện đại thời kì sau thì có Đất nước ( Nguyễn Khoa Điềm), Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? (Chế Lan Viên)… Sau đó đi vào so sánh trọng tâm hai tác phẩm mà đề yêu cầu. Sự trùng hợp ở đây phải chăng là các nhà thơ đều ấp ủ một đề tài rộng lớn, cùng xuất phát từ tình cảm yêu nước, từ tinh thần tự hào, tự cường dân tộc… Nhưng sắc thái riêng biệt của mỗi hồn thơ là hình tượng đất nước hiện lên trong thơ ca xưa vừa hùng vĩ, tráng lệ, vừa thiêng liêng, nhưng xa vời, trừu tượng. Còn trong thơ ca sau này hình tượng đất nước hiện lên thật gần gũi, bình dị. nó như hơi thở hàng ngày mang lại sự sống cho mỗi cuộc đời riêng, nó là “gốc lúa, bờ tre hồn hậu”, là “lúa nếp thơm nồng”, là đàn con thơ kinh hoàng bởi tiếng súng ùa về trong cả những giấc mơ: “Trong giấc thơ ngây tiếng súng dồn tựa sấm. Ú ớ cơn mê. Thon thót giật mình. Bóng giặc giày vò những nét môi xinh”; là người mẹ già quảy gánh hàng rong bước chông chênh trong làn mưa bom lửa đạn của kẻ thù…Chính vì gần gũi như vậy nên khi đất nước rơi vào tay giặc mới đem lại sự cảm nhận về nỗi đau rất cụ thể: “Đứng bên này sông sao nhớ tiếc. Sao xót xa như rụng bàn tay!”; Vàniềm vui, niềm tự hào khi được làm chủ đất nước cũng rất cụ thể: Trời xanh đây là của chúng ta Giáo viên Thực hiện: NGUYỄN THỊ KIM HUY - Trường THPT Lê Hồng Phong Trang: 13 Sáng Kến Kinh Nghiệm: “TÍNH LIÊN VĂN BẢN TRONG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI VĂN THPT” Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa… (Đất nước – Nguyễn Đình Thi) Trong nền văn học Việt Nam, có rất nhiều vấn đề mà khi nghiên cứu chúng ta phải dặt trong mối quan hệ so sánh. Các nhà văn, nhà thơ có tác phẩm viết về cùng đề tài: Các nhà văn hiện thực phê phán viết về hình tượng người nông dân trước cách mạng tháng tám năm 1945: Ngô Tất Tố -Nguyễn Công Hoan – Nam Cao... Các nhà thơ hiện thực trào phúng: Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương… Các nhà văn cùng có tác phẩm viết về hình tượng nhân vật nữ thành công: Kim Lân,Tô Hoài, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu… Các nhà thơ trong phong trào thơ mới: Tản Đà, Xuân Diệu, Huy Cận , Hàn Mặc Tử, Thế Lữ, Chế Lan Viên… Các nhà thơ cách mạng: Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi… Nhà văn viết thành công về vẻ đẹp dòng sông quê hương đất nước: Nguyễn Tuân , Hoàng Phủ Ngọc Tường… Ngoài ra, khi dạy học sinh giỏi, giáo viên cần hướng dẫn học sinh so sánh nền văn học giữa các nước có ảnh hưởng, có giao thoa qua lại với nhau. Như khi phân tích bức tranh hiện thực thu nhỏ của xã hội Tây – Tàu nhố nhăng, của lối sống đua đòi đến mức lố lăng, đồi bại trong Số đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng, chúng ta có thể so sánh với Lão Gôrio của nhà văn hiện thực Pháp cùng thời – Honore de Bandac. Cụ thể trong đoạn trích được học ở sách giáo khoa, cảnh đám tang cụ cố Tổ, có thể so sánh với đám tang lão Gorrio. Giáo viên Thực hiện: NGUYỄN THỊ KIM HUY - Trường THPT Lê Hồng Phong Trang: 14 Sáng Kến Kinh Nghiệm: “TÍNH LIÊN VĂN BẢN TRONG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI VĂN THPT” Giáo viên cũng có thể hướng dẫn học sinh tìm đọc và trả lời theo bảng gợi ý so sánh như sau: Một số chi tiết để Số đỏ (Vũ Trọng so sánh Phụng) Lão Gorio (H. Bandac) Thời gian 7h sáng 5h chiều Không gian - Thành phố đông đúc, - Ngoại ô Paris huyên náo - Pháp - Việt Nam Người quá cố Cụ cố Tổ Người cha, lão Gôrio Số lượng người Vài ba trăm người, có - Không có người thân, đi đưa cả đại gia đình con chỉ có 6 người không họ cháu. hàng, hai xe treo gia hiệu hai cô con gái nhưng không có người ngồi, chỉ có đám gia nhân theo sau xe. - Không có người thân. Cảnh hạ huyệt - Cậu Tú tân trổ tài đạo diễn cho nhiều người thi nhau chụp ảnh trên những ngôi mộ khác nhau. - Tiếng khóc to “Hứt! Hứt! Hứt!” lố bịch của ông cháu rể. -Tờ năm đồng gấp tư Sự xuất hiện của mà Xuân tóc đỏ vội giúi đồng tiền lúc hạ vào tay ông Phán mọc huyệt sừng trong khi ông cháu - Đám người nhà đạo và hai gã đào huyệt về ngay sau khi nhận tiền công, chỉ còn một mình chàng sinh viên nghèo Raxtinhac ngồi lại bên ngôi mộ người xấu số. - Giọt nước mắt lặng lẽ rơi của Raxtinhac vì thương cho người cha nghèo bất hạnh, vì hận tình đời đen bạc, vì hận hai cô con gái bất hiếu của lão Gôrio. - 70 quan trả cho nhà thờ để cầu kinh làm phúc. - 20 đồng Raxtinhac vay Crixtopho trả tiền công Giáo viên Thực hiện: NGUYỄN THỊ KIM HUY - Trường THPT Lê Hồng Phong Trang: 15 Sáng Kến Kinh Nghiệm: “TÍNH LIÊN VĂN BẢN TRONG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI VĂN THPT” rể này đang ngụy trang bằng tiếng khóc rất to và dáng bộ ngất muốn oặt người đi. -Linh đình, long trọng Hình thức đám như đám hội, đám rước. tang Đám đi chậm chạp qua các phố. -Theo cả lối Tây – Tàu – Ta. Bút pháp cho gã đào huyệt sau khi hất một vài xẻng đất vừa che lấp chiếc áo quan. -Đơn giản, gọn nhẹ, chóng vánh. Trào phúng, phóng đại, Hiện thực kết hợp lãng châm biếm. mạn. Khi lập bảng này giúp học sinh thấy rõ những nét khác nhau, đối lập nhau dù cùng miêu tả về cảnh đám tang. Hai nhà văn của hai đất nước xa xôi, dù cách viết khác nhau, nhưng ngòi bút của họ đều phơi bày hiện thực xã hội đương thời. Cả hai nhà văn đều lên án sự tha hóa của nhân cách con người trước sức mạnh ghê gớm của đồng tiền. Ngoài ra, tương tự như vậy, giáo viên cũng có thể hướng dẫn học sinh tìm đọc và so sánh giữa các nhân vật, tác phẩm, tác giả nổi tiếng như: Chí Phèo (Chí Phèo, Nam Cao) – AQ (AQ chính truyện – Lỗ Tấn) Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) – Chiến tranh và hòa bình (Lep Tolxtoi) Xuân Diệu – A.Puskin – Targore… 3.2.3. Kết luận: Áp dụng tính liên văn bản từ góc nhìn so sánh sẽ giúp cho giới nghiên cứu văn học cả một trường liên tưởng vô tận. Để chúng ta thấy rằng, thế giới văn học thật phong phú và đa dạng. Tác phẩm văn học luôn dẫn dắt con người đi đến tìm ra tiếng nói chung. Qua so sánh cùng với quy luật của sự sàng lọc khắc nghiệt của cuộc sống cũng một lần nữa khẳng định sự bất tử của những tác phẩm thực sự có gía trị. Giáo viên Thực hiện: NGUYỄN THỊ KIM HUY - Trường THPT Lê Hồng Phong Trang: 16

Sáng kiến kinh nghiệm TÍNH LIÊN VĂN BẢN TRONG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI VĂN THPT

By : amakong2
Thứ Hai, 4 tháng 7, 2016
0

- Copyright © Chia sẻ tài liệu - Blogger Templates - Powered by Blogger - Designed by Johanes Djogan -