Recent Blog post
So sánh: đối chiếu hai hay nhiều sự vật, hoặc là các mặt trong cùng một sự vật
nhằm chỉ ra những nét tương đồng hay khác biệt, từ đó thấy rõ đặc điểm và giá trị
cùa từng sự vật. Khi so sánh cần chú ý lựa chọn và duy trì một tiêu chí, một bình
diện so sánh nhất định. Chẳng hạn:
Nguyễn Văn Siêu đã rất đúng đắn khi đặt ra một yêu cầu cho văn chương
chân chính, đó phải là tiếng nói, hơi thở của cuộc sống đời thường, đưa ra nhiệm
vụ phản ánh hiện thực cho văn chương. Yêu cầu này đòi hỏi ở nhà văn một sự
tinh tế, nhạy cảm, thức nhọn các giác quan rất cao để có thế giới quan cuộc sống,
nhập thân vào cuộc sống để khám phá, tìm tòi. Một tác phẩm ưu tú "không đem
đến một cách cho người đọc sự thoát ly hay sự quên:, nó đem đến cho người đọc
hơi thỏ, nhịp đập của chính cuộc đời cho người đọc những “bài học trông nhìn và
thưởng thức" (Theo dòng)-Thạch Lam. “Tác phẩm văn nghệ phải thể hiện sự
sống thật hơn là sự sống bình thường, cô đọng hơn, khái quát hơn, cao hơn cuộc
sống mà văn là cuộc sống” (Trường Chinh). Người nghệ sĩ phải nhận thức, phản
ánh cuộc sống có lí tưởng, chứ không phải mình họa li tưởng cuộc sống. Lí tưởng
nằm ngay trong cuộc sống chứ không tách ra khỏi cuộc sống, không khiến người
ta thoát ly hay quên lãng ... (Bài viết: Trong một bức thư luận bàn về văn chương,
Nguyễn Văn Siêu có viết: “Văn chương [...] có loại đáng thờ. Có loại không đáng
thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là
loại chuyên chú ở con người”. Hãy phát biểu ý kiến về quan niệm trên).
Đoạn văn trên có sự so sánh trong quan niệm về văn chương của các tác giả:
Nguyễn Văn Siêu, Thạch Lam, Trường Chinh. Từ đó, người đọc thấy được sự
tương đồng trong quan niệm của các tác giả về vấn đề này.
Bác bỏ: dùng lập luận đầy đủ để chứng minh một ý kiến nào đó là sai. Muốn
bác bỏ một ý kiến nào đó, cần trích ý kiến đó rồi trả lời bằng những lập luận: ý
kiến đó sai ở chỗ nào và vì sao như thế là sai. Ví dụ:
Nguyễn Văn Siêu đã rất đúng đắn khi đặt ra một yêu cầu cho văn chương
chân chính, đó phải là tiếng nói, hơi thở của cuộc sống đời thường, đưa ra nhiệm
vụ phản ánh hiện thực cho văn chương... […]
Tuy nhiên, cũng cần quan tâm đến hình thức nghệ thuật. Hình thức và nội
dung cần có sự tương xứng. Nghệ thuật giúp nội dung trở nên đặc sắc hơn. Một
tác phẩm hay phải là một chỉnh thể thẩm mĩ, là sự gắn bó, quyện hòa giữa hai mặt
hình thức và nội dung. Văn học “như người con gái đẹp” (Chế Lan Viên) khônq
chỉ lôi cuốn người ta bằng y phục, dáng hình mà còn làm mê đắm lòng người
bằng vẻ đẹp nhân phẩm bên trong. Một tác phẩm văn học chỉ hay khi kết tinh cao
độ sự độc đáo, mới lự của hình thức và sự sâu kín của nội dung, là một chỉnh thề
thống nhất, hài hòa. Tính nhạc dặt dìu được rạo nên từ thể thơ năm chữ như ru,
như hát, như thủ thỉ tâm tình của một bài thơ đẹp như “Thơ tình cuối mùa thu” đã
dần người đọc dạo bước mùa thu, dạo bước tình yêu. Hình ảnh thơ trong sáng,
giản dị, nghệ thuật ngắt dòng, lặp từ rất khéo léo, thành công khiến bài thơ như
một điệp khúc tình yêu ngân vang, tha thiết....[…]
Như vậy, ý kiến, quan niệm của Nguyễn Văn Siêu [...] thiếu cái nhìn toàn
diện, chưa nhận thức đầy đủ về giá trị, vai trò của rác yếu tố hình thức, nghệ
Giáo viên Nguyễn Thị Lê
THPT Nguyễn Đình Chiểu.
11
thuật trong văn chương.(Bài viết: "Trong một bức thư luận bàn vể văn chương,
Nguyễn Văn Siêu có viết: “Văn chương [...] có loại đáng thờ. Có loại không đáng
thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là
loại chuyên chú ở con người”. Hãy phát biểu ý kiến về quan niệm trên").
Trong phần văn bản trên, người viết đã sử dụng thao tác bác bỏ để bác đi ý
kiến của Nguyễn Văn Siêu khi ông phủ nhận hoàn toàn vai trò của hình thức nghệ
thuật trong sáng tác văn học. Bằng việc đưa ra những vấn đề lí luận và phân tích
một Ví dụ cụ thể (bài thơ “Thơ tình cuối mùa thu” của Xuân Quỳnh), người viết
đã khẳng định vai trò không thể thiếu của nghệ thuật đối với một tác phẩm văn
học có giá trị. Từ đó, chỉ ra thiếu sót trong quan niệm của Nguyễn Văn Siêu: thiếu
cái nhìn toàn diện, chưa nhận thức đầy đủ về giá trị, vai trò của các yếu tố hình
thức, nghệ thuật trong văn chương.
Bình luận: bàn bạc và đánh giá vể sự đúng sai, thật giả, lợi hại của các tác
phẩm, các vấn đề văn học, các ý kiến bàn về văn học,... Muốn bình luận một vấn
đề cần lưu ý xác định đối tượng bình luận, giới thiệu đối tượng đó và đề xuất ý
kiến bình luận (phân tích đối tượng một cách cụ thể và nhìn đối tượng từ nhiều
mối quan hệ). Chẳng hạn:
Hình ảnh người lính Tây Tiến là một bức tượng đài đẹp đẽ với tư thế hiên
ngang, với khí phách anh hùng và có cả những say mê, ước vọng lãng mạn, đẹp đẽ.
Nhưn thơ Quang Dũng còn tả rất thực về những mất mát, hy sinh của đoàn binh
Tây Tiến. Không thi vị hóa hiện thực, ngòi bút thơ Quang Dũng dám nhìn nhận
vào nhữnq tổn thất tất yếu của con người trong chiến tranh tàn khốc (Bài viết “Vẻ
đẹp bi tráng của người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng”).
Trong đoạn văn trên, người viết đã sử dụng thao tác bình luận để đánh giá về
thơ Quang Dũng mà cụ thể là bài thơ “Tây Tiến” và hình ảnh người lính trong bài
thơ. Hình ảnh người lính Tây Tiến “là một bức tượng đài đẹp đẽ”. Thơ Quang
Dũng “tả rất thực về những mất mát, hy sinh của đoàn binh Tây Tiến. Không thi
vị hóa hiện thực [...] dám nhìn nhận vào những tổn thất tất yếu của con người
trong chiến tranh tàn khốc” (Tr 5,6,7-Rèn luyện kỹ năng làm bài thi tốt nghiệp và
đại học môn Văn-NXB ĐHQG Hà Nội)
Ngoài những thao tác trên, trong bài viết cần vận kết hợp nhiều thao tác khác
để bài viết được sáng tỏ, có sức thuyết phục. Tuy nhiên, điều quan trong ở khâu
này là học sinh phải xác định được trong một đề bài cụ thể thao tác nào là trọng
tâm, là chính, cần sử dụng nhiều; thao tác nào là phụ? Muốn vậy, giáo viên hướng
dẫn học sinh chú ý ở những từ ngữ nêu rõ thao tác lập luận biểu hiệu ở đề bài, để
xác định cho đúng.
Ví dụ: Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc
thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu. Ở đề bài này học sinh cần xác định phải
kết nhiều thao tác: phân tích, chứng minh, giải thích, bác bỏ, bình luận,… Trong
đó, thao tác phân tích và bình luận là chính.
d) Xác định phạm vi tư liệu
- Đối với những để bài thuộc kiểu bài nghị luận về một ý kiến bàn về văn học,
Giáo viên Nguyễn Thị Lê
THPT Nguyễn Đình Chiểu.
12
phạm vi tư liệu là bản thân ý kiến đó và những tác phẩm văn học tiêu biểu.
Chẳng hạn với đề bài: Anh (chị) hãy hày tỏ quan điểm cửa mình về ý kiến của
nhà văn Pháp La Bơ-ruy-e:“Khi một tác phẩm nâng cao tinh thần ta lên và gợi
cho ta những tình cảm cao quý và can đảm, không cần tìm một nguyên tắc nào để
đánh giá nó nữa: đó là một cuốn sách hay và do một nghệ sĩ viết ra”.
Phạm vi tư liệu là: Ý kiến của La Bơ-ruy-e; những tác phẩm văn học tiêu biểu.
- Đối với những đề bài thuộc kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ; một
tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi, phạm vi tư liệu nằm trong chính những tác
phẩm văn học là đối tượng của bài viết. Ví dụ:
Đề bài “Phân tích hình ảnh thơ mộng, trữ tình của những dòng sông Việt Nam
qua hai bài tuỳ hút “Người lái đò sông Đà” (Nguyễn Tuân) và "Ai đã đặt tên cho
dòng sông?” (Hoàng Phủ Ngọc Tường).
Phạm vi tư liệu: Tác phẩm Người lái đồ sông Đà (Nguyễn Tuân) và Ai đã đặt
tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường); dẫn chứng từ thực tế/trong văn học
về những dòng sông Việt Nam.
- Đối với những đề bài thuộc kiểu bài nghị luận về một vấn đề văn học kết hợp
vấn đề thuộc tư tưởng, đạo lí hay hiện tượng đời sống thì phạm vi tư liệu nằm
trong chính những tác phẩm văn học và vấn đề đời sống, tư tưởng, đạo lí được nêu
lên là đối tượng của bài viết. Ví dụ:
Đề bài: Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con
trong gia đình của Nguyễn Thi. Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước
của thế hệ trẻ trong thời hiện đại.
Kết quả của bước tìm hiểu đề giúp học sinh xác định được tất cả các yêu cầu
của đề bài: về kiểu bài, về nội dung trọng tâm của đề, thao tác lập luận, phạm vi
dẫn chứng.
Ví dụ: Phân tích nhân vật Mị trong đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” của Tô
Hoài (Đối với dạng đề nghị luận văn học)
Học sinh cần xác định được:
+Kiểu bài: nghị luận về một đoạn trích văn xuôi- phân tích nhân vật trong
đoạn trích.
+Nội dung trọng tâm: phân tích nhân vật Mị-> tư tưởng, tình cảm của nhà văn
qua đoạn trích.
+Thao tác lập luận: phân tích, giải thích, chứng minh, bình luận,...Trong đó
phân tích và bình luận là hai thao tác chính.
+Phạm vi tư liệu: đoạn trích “Vợ chồng A Phủ”, mở rộng cả tác phẩm.
Ví dụ: Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong
gia đình của Nguyễn Thi. Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước của
thế hệ trẻ trong thời hiện đại. (Đối với dạng đề nghị luận văn học kết hợp nghị xã
hội)
Giáo viên Nguyễn Thị Lê
THPT Nguyễn Đình Chiểu.
13
Học sinh cần xác định được:
+Kiểu bài: nghị luận về một tác phẩm văn xuôi- phân tích nhân vật trong đoạn
trích và nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
+Nội dung trọng tâm: phân tích nhân vật Việt-> tư tưởng, tình cảm của nhà
văn qua đoạn trích; bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ.
+Thao tác lập luận: phân tích, giải thích, chứng minh, bình luận,...Trong đó
phân tích và bình luận là hai thao tác chính.
+Phạm vi tư liệu: tác phẩm “Những đứa con trong gia đình”, một số tác phẩm
khác cùng đề tài; trong đời sống.
Trong quá trình dạy – học (nhất là ở tiết trả bài) tôi đã cho học sinh thấy một
cách nghiêm túc rằng lạc đề là lỗi nặng nhất, nghiêm trọng nhất của một bài Tập
làm văn. Một bài văn lạc đề dù có những đoạn văn hay đến đâu cũng không thể đạt
được điểm cao. Đối với giáo viên, trước một đề Tập làm văn việc tìm hiểu đề là
đơn giản nhưng với học sinh khâu này rất quan trọng. Vì vậy, trước bất cứ một đề
văn nào giáo viên luôn yêu cầu học sinh thực hiện tốt khâu này.
Có thể nói rằng đây là một bước mất ít thời gian của tiết học nhưng nó mang
lại hiểu quả rất tốt cho học sinh. Thực tế, nhiều năm dạy lớp 12, đặc biệt ở tiết
luyện tập trái buổi tôi đã áp dụng giải pháp này và từng bước đạt được kết quả
đáng kể. Chỉ qua một, hai tiết hướng dẫn tìm hiểu đề, dù là những học sinh kém về
môn Văn nhưng ít nhiều các em vẫn nhận thức được đúng yêu cầu của đề bài.
Trong những lớp tôi phụ trách, trường hợp học sinh hiểu sai đề chỉ là 1 hoặc 2 em
ở bài viết số 1 và kết quả được nâng ở những bài viết tiếp theo.
2. Lập dàn ý
Đối tượng của bài nghị luận văn học là đa dạng, tuy nhiên xuất phát từ nhu cầu
thiết thực, phù hợp đối tượng học sinh. Nên ở giải pháp này tôi chỉ giới hạn dạng
đề nghị luận về một đoạn thơ, một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi; nghị luận về một
vấn đề văn học kết hợp tư tưỏng, đạo lí hoặc hiện tượng đời sống.
Việc lập dàn ý giúp người viết bao quát được vấn đề, đảm bảo được tính hệ
thống của lập luận, tính cân đối của bài viết, xác định được mức độ trình bày mỗi
ý, từ đó phân bố thời gian hợp lí. Có hướng dẫn học sinh sắp xếp các ý theo trình
tự nội dung, nghệ thuật, rồi đến nhận xét, đánh giá, suy nghĩ của bản thân (thường
là phân tích các tác phẩm văn xuôi). Có thể sắp xếp đan xen giữa nội dung, nghệ
thuật và nhận xét đánh giá, suy nghĩ của thân (phổ biến trong phân tích thơ). Lập
dàn ý tốt, viết sẽ dễ dàng hơn, nhanh hơn, hay hơn nhờ biết lựa chọn đúng cách
diễn đạt, cách trình bày bài viết. Dàn ý của bài văn nghị luận có cấu trúc ba phần.
Mỗi phần có nhiệm vụ riêng:
a ) Mở bài
Người ta thường nói: Văn hay chưa hẳn là dài- Mới đọc mở bài đã biết văn
hay. Mở bài có vai trò quan trọng đối với một bài văn. Mở bài đúng và hay sẽ khai
thông được mạch văn. Ở phần mở bài, người viết cần giới thiệu khái quát vấn đề
sẽ nghị luận, sẽ làm sáng tỏ trong bài viết. Để có được đoạn mở bài hay, cần nêu
Giáo viên Nguyễn Thị Lê
THPT Nguyễn Đình Chiểu.
14
trọng tâm và phạm vi vấn đề sẽ bàn bạc một cách ngắn gọn, viết tự nhiên, khúc
chiết và mới mẻ.
Nhìn chung có hai cách chính: mở bài trực liếp và mở bài gián tiếp.
Ví dụ 1: Đề bài- Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến qua đoạn thơ:
...Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành...
( Trích Tây Tiến - Quang Dũng)-Đây là dạng đề nghị luận văn học.
- Mở bài trực tiếp, người viết nêu ngay vấn đề trọng tâm. Chẳng hạn:
Tây Tiến là bài thơ đặc sắc của Quang Dũng viết về đề tài người lính trong
kháng chiến chống Pháp nói riêng và thơ ca Việt Nam nói chung . Bài thơ đã khắc
họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến: anh hùng, lãng mạn, hi sinh anh
dũng vì quê hương đất nước. Hình tượng người lính hiện lên rõ nét nhất qua đoạn
thơ sau:
“...Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành... ”
Trong mở bài trên, người viết trực tiếp giới thiệu bài thơ của Quang Dũng và vị
trí, vai trò của tác phẩm đối với tác giả và nền văn học Việt Nam (lí do để người
viết “yêu thích” tác phẩm- tình cảm, ấn tượng khái quát của người viết).
Ví dụ 2: Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong
gia đình của Nguyễn Thi. Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước của
thế hệ trẻ trong thời hiện đại.(Đây là dạng đề kết hợp giữa nghị luận văn học và
nghị luận xã hội).
Ở dạng đề này chúng ta nên hướng dẫn học sinh mở bài trực tiếp: giới thiệu về
tác giả dẫn vào tác phẩm rồi giới thiệu vấn đề nghị luân.
Giáo viên Nguyễn Thị Lê
THPT Nguyễn Đình Chiểu.
15
-Mở bài gián tiếp, người viết xuất phát từ một vấn đề khái quát hơn, một ý
kiến, một câu chuyện, một câu thơ, đoạn văn, một phát ngôn của nhân vật nổi
tiếng nào đó,... dẫn dắt người đọc đến vấn đề sẽ bàn luận trong bài viết. Cũng đề
bài ở ví dụ 1, ta có thể mở gián tiếp như sau:
Văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 viết về đề tài người lính đã để lại
nhiều bài thơ hay. Nếu như Đồng chí của Chính Hữu, Nhớ của Hồng Nguyên là
những tiếng thơ về người lính xuất thân từ “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên
sỏi đá” thì Tây Tiến lại viết từ cảm hứng thẩm mĩ của một lớp chiến sĩ hoàn toàn
khác. Bài thơ hiện lên bức chân dung, vẻ đẹp tâm hồn của người lính- những
chàng trai thành thị trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Tiêu biểu nhất qua đoạn
thơ sau:
“...Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành... ”
Mở bài trên đi từ vấn đề khái quát của đối tượng chính trong đề bài, lập luận
theo lối so sánh, dẫn dắt vào vấn đề.
Tóm lại, khi mở bài người viết cần chủ động viết thật sáng tạo để chẳng
những khơi gợi hứng thú theo dõi văn phong mà còn gây được sự chú ý của người
đọc về vấn đề sẽ viết.
Trên đây là những vấn đề về mặt lý thuyết. Thực tế, đối tượng học sinh tôi dạy
đến 90% là yếu-kém ở khâu viết mở bài, đa số các em không có khả năng tư duy,
suy luận, cảm thụ. Ở tiết luyện tập đầu tiên khi yêu cầu các em viết mở bài có
nhiều em hoàn toàn không biết viết như thế nào? Vận dụng kiến thức ở phần nào
trong bài Đọc văn để viết ?... Vì vậy, khi dạy học sinh viết mở bài, giáo viên đã cụ
thể hóa về cách viết- chọn cách trực tiếp, các nội dung kiến thức để viết mở bài,
cách dẫn vào vấn đề cần bàn luận. Có nghĩa là hướng các em tìm hiểu, ghi nhớ
theo khả năng bản thân những kiến thức cần thiết để viết mở bài (Chẳng hạn: cần
nắm được tác giả, nhận định về tác giả, tác phẩm, các hình tượng ... dạng đề ví dụ
1; cần nắm được tác giả, nhận định về tác giả, tác phẩm, các hình tượng, các vấn
đề thuộc về tư tưởng, đạo lí; các hiện tượng đời sống ...dạng đề ví dụ 2). Bởi vì,
học sinh của chúng tôi tuy khả năng sáng tạo, suy luận kém nhưng các em vẫn có
thể ghi nhớ, thậm chí là bắt chước.
Cũng đề bài ví dụ 1 và ví dụ 2, tôi hướng dẫn các em viết mở bài như sau:
Giáo viên Nguyễn Thị Lê
THPT Nguyễn Đình Chiểu.
16

Sáng kiến kinh nghiệm RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH THPT LỚP 12.
Sáng kiến kinh nghiệm
2014- 2015
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
Điệu sống gấp của Xuân Diệu được biểu hiện qua hệ thống động từ mạnh: ôm, riết, say,
thâu, hôn, cắn… kết hợp việc điệp lại từ “ta muốn” làm cho giọng thơ sôi nổi, hào hứng.
GV giúp HS phân tích kĩ các động từ, các từ chỉ cảm giác mạnh, điệp từ.. trong đoạn thơ
để làm nổi lên nhịp sống của cái “tôi’’ Xuân Diệu trước sự trôi chảy của thời gian và cái
“tôi’’ trong thơ Xuân Diệu là một cái “tôi’’ lớn lao, tầm vóc sánh ngang tầm vũ trụ chứ
không nhỏ bé, an phận như cái “tôi’’ thơ cổ.
Đến đây, GV cần phân tích cho HS thấy sự thay đổi nhịp điệu trong bài thơ theo mạch
cảm xúc của nhà thơ. Nhịp điệu bài thơ sẽ chi phối cách đọc bài thơ. Nếu đọc bài thơ
theo đúng nhịp, HS có thể cảm được cái hay, cái đẹp của bài thơ.
- 4 câu thơ đầu, đọc với giọng nhanh vừa phải, chất giọng khỏe khoắn, nhấn mạnh vào
các từ: muốn, tắt, buộc, đừng(chữ đừng kéo dài hơn một chút tạo cảm giác như muốn níu
giữ), đọc liền mạch và không ngắt nhịp.
- Từ câu 5 đến câu 13, đọc với giọng hào hứng, say mê, tự tin, khẳng định tràn đầy một
niềm lạc quan yêu đời. Nhấn mạnh từ “này đây” để thấy được sự đầy đủ, phong phú bất
tận những vẻ đẹp của cuộc sống, tình yêu đang mời chào, ngắt nhịp 3/5. Riêng hai câu
thơ cuối cần chú ý: câu thơ “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa” bị gãy ra ở giữa
dòng bởi một dấu chấm, vì vậy, vế đầu vẫn đọc hào hứng, còn vế sau hơi hạ giọng tạo ra
trạng thái hụt hẫng
- Từ câu 14 đến câu 29, giọng chậm, buồn, pha chút nuối tiếc. Nhấn mạnh các từ
“Nghĩa là”, “ nhưng”, “tiếc”, “bâng khuâng”, “hờn”- cách ngắt nhịp 3/5.
- Đoạn cuối bài thơ, giọng sôi nổi, nhanh, khỏe, tăng dần theo nhịp điệu và hệ thống
động từ trong đoạn thơ. Chú ý cách ngắt nhịp thơ không đều nhau.
Như vậy, nhịp điệu bài thơ một phần là do hệ thống từ ngữ chi phối. Khi phân tích bài
thơ, GV chú ý phân tích cho HS giá trị của việc sử dụng từ ngữ trong bài: hệ thống những
từ được lặp đi, lặp lại; hệ thống những động từ mạnh; hệ thống những từ chỉ cảm giác; hệ
thống những từ chỉ sức sống của thiên nhiên tươi tốt… tất cả đều được sử dụng rất đặc
biệt và mới mẻ, mà chỉ từ khi Xuân Diệu xuất hiện, chúng ta mới thấy cách diễn đạt như
vậy.
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Trang 11
Sáng kiến kinh nghiệm
2014- 2015
Để có được tiết dạy thành công, người GV phải chuẩn bị cả về mặt phương pháp và
kiến thức. Cụ thể đối với bài thơ Vội vàng, cần chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi tìm, câu hỏi
nêu vấn đề để HS thảo luận trên lớp, chuẩn bị những kiến thức về thể thơ tự do…Có như
vậy, người GV mới thúc đẩy học sinh nắm bắt vấn đề một cách tự giác, tích cực, chủ
động chiếm lĩnh tác phẩm. Đặc biệt sau tiết học, các em sẽ hiểu về thơ trữ tình được viết
theo thể thơ tự do của Xuân Diệu qua bài thơ Vội vàng nói riêng và Thơ mới nói chung,
hiểu được tâm hồn khát khao giao cảm với cuộc đời, say mê và rạo rực với cuộc đời của
nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ mới. Từ đó bồi dưỡng nhận thức của HS về ý nghĩa
của cuộc sống và biết quý trọng cuộc sống và sống có ý nghĩa hơn.
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Sau khi áp dụng đề tài Hướng dẫn học sinh tiếp cận bài thơ “Vội vàng” của Xuân
Diệu trong chương trình Ngữ văn 11 ở trường THPT trên một số lớp thuộc khối 11 tại
đơn vị đang giảng dạy, chúng tôi nhận thấy đã có những hiệu quả nhất định.
Về phía GV, khi giảng dạy phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập
của HS. Đồng thời, rèn luyện kỹ năng đọc- hiểu văn bản thơ trữ tình viết theo thể thơ tự
do. GV Chủ động định hướng cho học sinh tiếp cận, khai thác chi tiết, phân tích, cắt
nghĩa rõ ràng, tô đậm được chủ đề của bài thơ và làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn và tư tưởng
mới mẻ, nhân văn của Xuân Diệu. Điều đó, không những giúp HS nắm được kiến thức,
rèn luyện về kỹ năng mà còn giúp HS có những cảm nhận cá nhân về tác phẩm, vì thế dễ
tác động đến cảm xúc văn chương trong tâm hồn mỗi HS, đem đến hiệu quả tốt hơn cho
bài học.
Về phía HS, lớp học rất hào hứng trước vấn đề GV nêu ra, có những câu HS trả lời với
nhiều ý kiến khác nhau, thể hiện cách tư duy độc lập trong quá trình tìm hiểu và tiếp cận thể
loại thơ trữ tình hiện đại qua bút pháp nghệ thuật trong bài thơ. Tính tích cực của HS được
phát huy tối đa, HS tự do phát biểu ý kiến trình bày những cảm nhận riêng mang màu sác
cá nhân rõ nét.
Hướng dẫn học sinh tiếp cận bài thơ Vội vàng- Xuân Diệu theo hướng mà đề tài đã đề
cập, GV tạo cho lớp học một không khí đối thoại, tranh luận, trao đổi trực tiếp những nhận
thức của mình. Từ đó, HS hiểu đúng, hiểu sâu bài thơ khiến giờ học thêm say sưa, hứng
thú…
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Trang 12
Sáng kiến kinh nghiệm
2014- 2015
Kết quả kiểm tra: Chúng tôi đã tổ chức kiểm tra cùng một đề bài, triển khai cùng một
đáp án về bài thơ Vội vàng - Xuân Diệu ở một số lớp khối 11 dưới hình thức tự luận
nhằm mục đích đánh giá kết quả học tập sau giờ đọc - hiểu khi tiếp cận phương thức khai
thác mới cho bài thơ. Đối chiếu kết quả các lớp trước khi áp dụng đề tài và sau khi áp
dụng, đã có biến chuyển tích cực, kết quả đạt được cụ thể như sau:
Trước khi áp dụng đề tài
Tỉ lệ
Lớp dạy Sĩ số lớp
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Kém
11a1
40
0 (0.0%)
9 (22,5%)
17 (42,5%)
11(27,5%) 3(7,5%)
11a3
41
2 (4,9%)
13 (31,7%)
14 (34,1%)
10(24,4%) 2(4,9%)
11a6
42
3(7,2%)
14 (33,3%)
19 (45,2%)
4(0,5%)
2(4,8%)
11a4
41
4 (9,76%)
19 (46,4%)
11 (26,8%)
6(14,6%)
1(2,44%)
Sau khi áp dụng đề tài
Tỉ lệ
Lớp dạy Sĩ số lớp
Giỏi
Khá
Trung
Yếu
Kém
bình
11a1
40
3 (7,5%)
15 (37,5%)
20 (50%)
2 (5,0%)
0 (0%)
11a3
41
4 (9,79%)
16 (39,0%)
18 (43,9%)
3 (7,31%)
0 (0%)
11a6
42
7 (16,7%)
19 (45,2%)
13(30,9%)
3 (7,2%)
0 (0%)
11a4
41
8 (19,5%)
21(51,2%)
11(26,8%)
1 (2,5%)
0 (0%)
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Từ những vấn đề cơ bản đã trình bày trong đề tài sáng kiến kinh nghiệm qua việc tìm
hiểu bài thơ Vội vàng- Xuân Diệu ở lớp 11 trường THPT, tôi nhận thấy đây là phương
pháp hướng dẫn học sinh tiếp cận tác phẩm có hiệu quả vì giúp học sinh hứng thú và phát
huy khả năng sáng tạo, tìm được điểm nhấn trong bài thơ, đặc biệt là thể loại thơ trữ tình
hiện đại được viết theo thể thơ tự do. Từ đó, có thể giúp học sinh hệ thống kiến thức, vận
dụng vào bài kiểm tra, bài thi.. Vì thế, với vai trò định hướng, người giáo viên khi giảng
dạy phải chủ động vận dụng linh hoạt, khéo léo, đổi mới phương pháp giảng dạy để tạo
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Trang 13
Sáng kiến kinh nghiệm
2014- 2015
nên sức hút đối trong bài thơ Vội vàng- Xuân Diệu nói riêng và môn Ngữ văn nói chung
tạo một bước đệm tốt để HS tiếp cận một số bài thơ tự do ở lớp 12 như Tây Tiến - Quang
Dũng, Đất nước - Nguyễn Khoa Điềm, Đàn ghi ta của Lor - ca – Thanh Thảo…
Đề tài Hướng dẫn học sinh tiếp cận bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu trong
chương trình Ngữ văn 11 ở trường THPT là sự đúc kết kinh nghiệm của quá trình giảng
dạy, dự giờ đồng nghiệp của bản thân. Tuy nhiên, đây là những ý kiến cá nhân nên khi
thực hiện đề tài khó tránh khỏi những hạn chế nhất định. Vì vậy, tôi rất mong nhận
được những ý kiến đóng góp và trao đổi của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp để đề tài
được hoàn thiện và áp dụng trong thực tiễn hiệu quả hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kỹ năng môn Ngữ văn
12, NXB Giáo dục, 2010.
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Trang 14
Sáng kiến kinh nghiệm
2014- 2015
2. Xuân Diệu, Công việc làm thơ - NXB Văn học, 1984.
3. Phan Cự Đệ, Phong trào thơ mới - NXB Khoa học xã hội, tái bản, H, 1994
4. Lê Quang Hưng, Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu thời kì trước Cách mạng tháng
Tám 1945 - NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2002
5. Mã Giang Lân, Xuân Diệu, những lời bình - NXB Văn hóa - thông tin, 1999
6. Lưu Khánh Thơ, Xuân Diệu, về tác giả, tác phẩm - NXB Giáo dục, 1998
7. Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam - NXB Văn học, 2003
8. Phan Trọng Luận, Phương pháp dạy - học văn - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,1998
9. Đặng Anh Đào, Văn học Pháp và sự gặp gỡ với văn học Việt Nam 1930 - 1945 - Tạp
chí văn học , số 7, 1997
VII. PHỤ LỤC
Thiết kế giáo án thực nghiệm
Tiết 75-76
Đọc Văn
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Trang 15
Sáng kiến kinh nghiệm
2014- 2015
VỘI VÀNG
Xuân Diệu
A. Mục tiêu cần đạt
- Cảm nhận được lòng ham sống bồng bột, mãnh liệt và quan niệm nhân sinh, thẩm mĩ
mới mẻ của Xuân Diêu;
- Thấy được sự kết hợp hài giữa mạch cảm xúc dồi dào và mạch triết luận sâu sắc của bài
thơ cùng những sáng tạo trong hình thức thể hiện.
B. Trọng tâm kiến thức, kĩ năng
1. Kiến thức
- Niềm khát khao giao cảm với đời và quan niệm nhân sinh, thẩm mĩ mới mẻ của Xuân
Diệu.
- Đặc sắc của phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám.
2. Kĩ năng
- Đọc - hiểu một tác phẩm trữ tình theo đặc trưng thể loại.
- Phân tích một bài thơ
C. Tiến trình bài dạy
1. Ổn định lớp
2. Kiểm tra bài
3. Nội dung bài mới
Hoạt động của GV và HS
Tiết 1
HĐ1: Trước khi cho HS tìm hiểu phần tiểu
dẫn nên gợi ý, tái hiện cho HS về phong
trào Thơ mới.
- GV hỏi: Phong trào Thơ mới xuất hiện
năm nào? Kể tên một số tác giả và những
bài thơ mà em biết?
- GV giới thiệu thêm về quê hương, gia
đình của Xuân Diệu.
HĐ2: Hướng dẫn HS tìm hiểu chung về
tác giả, tác phẩm, bố cục bài thơ
- GV yêu cầu học sinh đọc tiểu dẫn và khái
quát những nét chính về tác giả, tác phẩm.
- HS tìm hiểu, phát biểu cá nhân.
- GV giới thiệu thêm về phong cách nghệ
thuật thơ XD, vị trí vai trò của bài thơ Vội
vàng đối với thơ XD trước cách mạng và
Thơ mới nói chung.
Nội dung cần đạt
I. Tiểu dẫn
1. Tác giả: Sgk/21
- Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các
nhà thơ mới – Hoài Thanh.
- Xuân Diệu là nhà thơ của tình yêu, mùa
xuân và tuổi trẻ.
- Sự nghiệp sáng tác phong phú, đa dạng.
2. Tác phẩm
- Xuất xứ: Trích trong tập “Thơ thơ”
(1938).
- Nêu xuất xứ và xác định thể loại của bài - Thể loại: Thơ trữ tình viết theo thể thơ tự
thơ?
do.
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Trang 16

Sáng kiến kinh nghiệm HƯỚNG DẪN HỌC SINH TIẾP CẬN BÀI THƠ VỘI VÀNG CỦA XUÂN DIỆU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11 Ở TRƯỜNG THPT
+ Đánh giá ý nghĩa tình huống đối với sự thành công của tác phẩm
+ Cảm nhận của bản thân về tình huống đó.
Ví dụ minh họa:
Đề: Anh chị hãy giải thích ý nghĩa nhan đề truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.
- Mở bài:
+ Tác giả Kim Lân, vị trí văn học của tác giả.
+ Giới thiệu về tác phẩm Vợ nhặt.
+ Nêu nhiệm vụ nghị luận.
- Thân bài:
+ Xuất xứ của nhan đề:
-> Tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư.
-> Viết lại thành truyện ngắn Vợ nhặt.
-> Lấy tình tiết Tràng nhặt vợ để đặt tên tác phẩm.
+ Ý nghĩa cụ thể: nghĩa đen là nhặt được vợ => tạo ấn tượng, kích thích sự
chú ý của người đọc vì thân phận rẻ rúng của con người.
+ Ý nghĩa chủ đề: nhan đề truyện đã định hướng chủ đề tác phẩm: phản ánh
tình cảnh thê thảm và thân phận tủi nhục của người nông dân nghèo trong
nạn đói khủng khiếp; sự đen tối, bế tắc của xã hội Việt Nam trước Cách
mạng tháng Tám.
- Kết bài:
+ Đánh giá ý nghĩa nhan đề đối với sự thành công của tác phẩm
+ Cảm nhận của bản thân về nhan đề đó.
b. Phân tích ý nghĩa tình huống trong tác phẩm, đoạn trích văn xuôi:
Dàn ý chung:
- Mở bài:
+ Giới thiệu về tác giả, vị trí văn học của tác giả (có thể nêu phong cách).
+ Giới thiệu về tác phẩm (đánh giá sơ lược về tác phẩm).
+ Nêu nhiệm vụ nghị luận.
11
- Thân bài:
+ Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác
+ Tình huống truyện:
-> Tình huống truyện giữ vai trò là hạt nhân của cấu trúc thể loại.
-> Nó là cái hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt khiến tại
đó cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất, ý đồ tư tưởng của tác giả cũng bộc lộ
đậm nét nhất.
- + Phân tích các phương diện cụ thể của tình huống và ý nghĩa của tình
huống đó.
->Tình huống 1...ý nghĩa và tác dụng đối với tác phẩm.
->Tình huống 2...ý nghĩa và tác dụng đối với tác phẩm…
+ Bình luận về giá trị của tình huống…
- Kết bài:
+ Đánh giá ý nghĩa tình huống đối với sự thành công của tác phẩm
+ Cảm nhận của bản thân về tình huống đó.
Ví dụ minh họa:
Đề: Suy nghĩ của anh/chị về nét đặc sắc trong cách xây dựng tình huống
truyện qua tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu.
- Mở bài:
+ Giới thiệu về tác giả, tác phẩm: Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu
của văn học Việt Nam thời chống Mĩ, là người mở đường xuất sắc cho công
cuộc đổi mới văn học từ sau năm 1975. Chiếc thuyền ngoài xa là truyện
ngắn xuất sắc của Nguyễn Minh Châu trong thời kì sau năm 1975.
+ Giới thiệu về luận đề: Tác phẩm đã xây dựng được tình huống truyện độc
đáo xoay quanh chuyến đi thực tế của nghệ sĩ Phùng, qua đó thể hiện cách
nhìn sâu sắc của tác giả về cuộc sống và sự băn khoăn về số phận con người.
- Thân bài:
+ Đó là tình huống nhận thức trước một hiện tượng đầy nghịch lí của cuộc
sống. Nghệ sĩ Phùng đến vùng biển miền Trung chụp ảnh làm lịch và tiếp
cận được cảnh chiếc thuyền ngoài xa trong sương sớm hết sức thơ mộng.
Ngay sau đó, tại bãi biển, anh chứng kiến nghịch cảnh của cuộc sống - đó là
cảnh bạo hành trong gia đình hàng chài sống trên chính chiếc thuyền kia.
12
+ Khía cạnh nghịch lí của tình huống:
-> Cảnh thiên nhiên toàn bích nhưng cảnh đời thì đen tối; người có thiện chí
giúp đỡ nạn nhân lại bị nạn nhân từ chối quyết liệt...
-> Người vợ tốt lại bị chồng ngược đãi; vợ bị bạo hành nhưng vẫn cam chịu,
quyết không bỏ chồng, lại còn bênh vực kẻ vũ phu đó; người chồng vẫn gắn
bó nhưng vẫn cứ hành hạ vợ; con đánh bố...
+ Khía cạnh nhận thức của tình huống: Thể hiện qua những phát hiện về đời
sống của hai nhân vật Phùng và Đẩu.
Nhận thức về nghệ thuật và cuộc sống của người nghệ sĩ (nhân vật Phùng):
-> Cái đẹp ngoại cảnh có khi che khuất cái xấu của đời sống (ban đầu Phùng
ngây ngất trước cái đẹp bề ngoài của hình ảnh con thuyền từ xa, về sau anh
nhận ra vẻ đẹp ngoại cảnh đó đã che lấp cuộc sống nhức nhối bên trong).
-> Cái xấu cũng có thể làm cái đẹp bị khuất lấp (tìm hiểu sâu gia đình hàng
chài, Phùng lại thấy cuộc sống nhức nhối ấy làm khuất lấp nhiều nét đẹp của
không ít thành viên trong gia đình).
-> Từ sự phức tạp ấy, Phùng nhận ra rằng để hiểu được sự thật đời sống
không thể nhìn đơn giản mà phải có cái nhìn đa chiều và sâu sắc hơn.
Nhận thức về con người và xã hội của người cán bộ (qua nhân vật Đẩu):
-> Đằng sau cái vô lí là cái có lí (việc người đàn bà bị hành hạ là vô lí,
nhưng người đàn bà ấy không muốn rời bỏ chồng lại có lí riêng); đằng sau
cái tưởng chừng đơn giản lại chứa chất nhiều phức tạp.
-> Muốn giải quyết những vấn đề của cuộc sống, không chỉ dựa vào thiện
chí, pháp luật hoặc lí thuyết sách vở mà phải thấu hiểu cuộc sống và cần có
giải pháp thiết thực.
+ Bàn luận chung: Việc xây dựng tình huống truyện độc đáo có ý nghĩa
trong việc góp phần làm nổi bật chủ đề - tư tưởng của tác phẩm.
- Kết bài:
+ Đánh giá chung: Tình huống truyện có ý nghĩa khám phá, phát hiện đời
sống và bộc lộ được cái nhìn nhân đạo của tác giả.
+ Khẳng định: Nhờ tình huống truyện độc đáo, tác phẩm có sức hấp dẫn
(kịch tính trong hành động và diễn biến mạch truyện, chiều sâu tâm lí...).
c. Phân tích nhân vật trong tác phẩm, đoạn trích văn xuôi:
Dạng đề:
- Phân tích hình tượng nhân vật
13
- Phân tích diễn biến tâm lí nhân vật
- Phân tích vẻ đẹp nhân vật.
Dàn ý và ví dụ minh họa cho từng dạng đề:
Phân tích hình tượng nhân vật:
• Dàn ý:
- Mở bài:
+ Giới thiệu về tác giả, vị trí văn học của tác giả. (có thể nêu phong cách).
+ Giới thiệu về tác phẩm (đánh giá sơ lược về tác phẩm), nêu nhân vật.
+ Giới thiệu nhân vật.
- Thân bài:
+ Giới thiệu chân dung, lai lịch
+ Số phận
+ Vẻ đẹp tâm hồn
+ Tổng hợp, đánh giá:
-> Giá trị nội dung, tư tưởng được thể hiện qua nhân vật
-> Nghệ thuật xây dựng nhân vật.
- Kết bài:
+ Đánh giá nhân vật đối với sự thành công của tác phẩm.
+ Cảm nhận của bản thân về nhân vật đó.
• Ví dụ minh họa:
Đề: Phân tích hình tượng nhân vật Tnú trong tác phẩm Rừng xà nu của nhà văn
Nguyễn Trung Thành.
- Mở bài:
+ Giới thiệu vài nét về tác giả Nguyễn Thành trung và tác phẩm Rừng xà nu.
+ Giới thiệu về nhân vật Tnú.
- Thân bài:
+ Giới thiệu khái quát về nhân vật: Tnú là người Strá, mồ côi cha mẹ từ rất
sớm, được dân làng Xô Man cưu mang- đùm bọc. Từ nhỏ Tnú đã giác ngộ
14
cách mạng và làm liên lạc cho cách mạng rất thông minh, gan dạ, giàu tự
trọng.
+ Lần lượt phân tích những biểu hiện phẩm chất anh hùng của Tnú:
Một con người gan góc, dũng cảm, trung thành tuyệt đối với cách mạng:
-> Tiếp tế cho các cán bộ ở trong rừng mà không sợ bị chặt đầu hoặc treo cổ.
-> Làm liên lạc, giặc vây các ngả đường thì xé rừng mà đi, qua sông lựa chỗ
thác mạnh mà bơi, “vì chỗ nước êm thằng Mĩ hay phục”.
-> Bị giặc bắt thì nuốt luôn cái thư vào bụng, bị tra tấn không khai; một
mình xông ra giữa vòng vây của kẻ thù trong tay không có vũ khí; bị giặc
bắt, bị đốt mười đầu ngón tay vẫn không kêu than...
-> Học chữ thua Mai thì lấy đá đập vào đầu -> lòng tự trọng và ý chí quyết
tâm cao.
=> Phẩm chất anh hùng là cơ sở để làm nên hành động anh hùng của Tnú.
Một người biết vươn lên mọi đau đớn và bi kịch cá nhân:
-> Mồ côi, được dân làng nuôi nấng, sau này trở thành người con ưu tú của
dân làng.
-> Bản thân 2 lần bị giặc bắt, bị tra tấn dã man (tấm lưng chằng chịt những
vết chém, hai bàn tay bị đốt mỗi ngón chỉ còn lại hai đốt; vợ con bị giặc giết
hại...) Tnú không khuất phục, kiên cường, bền gan gia nhập bộ đội để cầm
súng bảo vệ dân làng, quê hương, đất nước.
Là người có ý thức và tinh thần kỷ luật cao: Xa bản làng ba năm, tuy nhớ
nhà, nhớ quê hương, nhưng phải được cấp trên cho phép anh mới về và chỉ
về đúng một đêm như qui định trong giấy phép.
Là một người giàu tình yêu thương người thân và quê hương bản làng:
+ Yêu thương vợ con: Chứng kiến cảnh vợ con bị kẻ thù tra tấn dã man anh
không kìm được nỗi đau đang đốt cháy lòng mình: “anh đã bứt đứt hàng
chục trái vả mà không hay. Anh chồm dậy (...) ở chỗ hai con mắt anh bây
giờ là hai cục lửa lớn”- > Yêu thương, căm thù đốt cháy trong hai con mắt một chi tiết dữ dội, bi thương.
+ Yêu bản làng, yêu quê hương đất nước: Trên đường trở về thăm làng, Tnú
nhớ từng gốc cây, nhớ tiếng chày giã gạo....cũng chính vì tình yêu quê
hương mà Tnú đã tham gia là cách mạng, chịu nhiều đau thương...
=> Tnú là một nhân vật tư tưởng có sôi lôi cuốn không chỉ bởi tính triết lý
mà còn mà còn bởi tính trữ tình, tính hình tượng.
15
+ Đặc biệt hình ảnh bàn tay Tnú là chi tiết nghệ thuật giàu sức ám ảnh. Bàn
tay ấy cũng có một cuộc đời:
-> Đó từng là bàn tay trung thực và tình nghĩa, từng cẩm phấn viết chữ anh
Quyết dạy cho, từng cầm đá đập vào đầu khi quên chữ, từng đặt lên bụng
mình mà nói “Cộng sản ở đây này”, từng được Mai cầm bàn tay ấy mà khóc
khi Tnú thoát ngục trở về ....
-> Đó còn là bàn tay của đau thương và thù hận: Khi giặc đốt 10 đầu ngón
tay, bàn tay thành chứng tích của tôi ác và lòng hận thù. Hận thù đã khiến
bàn tay Tnú thành bàn tay quả báo (mười ngọn đuốc từ ngón tay Tnú đã
châm bùng lên ngọn lửa nổi dậy của dân làng Xô Man; bàn tay chỉ còn hai
đốt mỗi ngón vẫn cầm giáo, cầm súng lên đường trả hận....
- Kết bài:
+ Chân lý cách mạng là chân lý từ máu và nước mắt, nó đồng nghĩa với chân
lý cuộc sống. Cuộc đời Tnú là bằng chứng sống cho qui luật nghiệt ngã ấy.
+ Câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú - cuộc đời của một con người mang
ý nghĩa cuộc đời của một dân tộc, mang đậm tính sử thi – nhân vật ấy gánh
nặng số phận lịch sử.
+ Dù có nhiều dị biệt, Tnú vẫn là kiểu nhân vật sánh vai với các anh hùng
trong trường ca Đam San, Xinh Nhã của núi rừng Tây Nguyên.
Phân tích diễn biến tâm lí nhân vật:
• Dàn ý:
- Mở bài:
+ Giới thiệu về tác giả, tác phẩm.
+ Giới thiệu về nhân vật
+ Khái quát diễn biến tâm lí của nhân vật.
- Thân bài:
+ Giới thiệu khái quát về nhân vật: cuộc đời, số phận…
+ Phân tích bối cảnh - tình huống và diễn biến tâm lí của nhân vật.
+ Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của nhà văn.
- Kêt bài:
+ Đánh giá thành công của nhà văn trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật.
+ Cảm nhận của bản thân về nhân vật.
16

Sáng kiến kinh nghiệm HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 12 LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM, MỘT ĐOẠN TRÍCH VĂN XUÔI
SKKN: Một số phương pháp rèn luyện kỹ năng viết môn Ngữ Văn cho HV khối GDTX
tập viết, học viên nào lười nhát thì thôi. Ngoài ra, thời gian dành cho môn Làm văn chỉ gói
gọn trong các tiết lý thuyết trên lớp, vì tiết thực hành chính là tiết học viên làm bài viết số
1, 2, 3 và đó là bài tập lấy điểm chính thức. Đìều này dẫn đến thực trạng phổ biến là tuy
học viên chăm chỉ học bài, thuộc bài, phát biểu sôi nổi nhưng kết quả học tập không cao.
Bởi vì điểm số của các bài viết trên lớp có hệ số 2.Quan trọng hơn là nhiều học viên buồn
chán vì điểm số các bài viết thấp . Trước thực trạng này, giáo viên chúng ta cần cố gắng
tìm sửa những lỗi diễn đạt của hoc viên trong các bài văn để giúp các em rèn luyện khả
năng viết. Tôi đã nghiêm chỉnh thực hiện thao tác này và đã được các em nhiệt tình hưởng
ứng. Tiến trình cụ thể như sau:
2.2.1 Tìm hiểu đề
Đối với đề văn tự luận, các yêu cầu thường tập trung vào hai lĩnh vực: nghị luận xã hội
và nghị luận văn học.
Nghị luận xã hội đòi hỏi học viên có khả năng nhận thức ý đồ của người ra đề
đồng thời vận dụng tri thức và kinh nghiệm xã hội để trình bày.
Ví dụ, đề bài sau: Bình luận ý kiến của Sê – Khốp (nhà văn Nga):"Con người càng phát
triển cao về trí tuệ và đạo đức thì càng tự do và cuộc sống càng đem lại cho anh ta nhiều
thích thú hơn" ( Ngữ văn 12 - sách Giáo viên, trang 34)
Với đề bài này, giáo viên cần giúp học viên xác định yêu cầu trọng tâm của đề. Nhấn
mạnh cho học viên các ý cần bám sát để triển khai: trí tuệ - đạo đức- tự do – những điều
thích thú từ đó tìm hiểu mối quan hệ nguyên nhân - kết quả giữa chúng.
Lưu ý: Thông thường, khi ra đề, giáo viên không giải thích thêm, nhưng đối với đối tượng
học viên chưa có được năng lực xác định yêu cầu của đề thì chúng ta buộc phải tiến hành
thao tác này. Song hành với công việc này, giáo viên hướng dẫn học viên lần tìm ý chính, ý
quan trọng trong một đề văn, từ đó biết định hướng làm bài.
Nghị luận văn học đòi hỏi học viên có khả năng cảm thụ văn học và diễn đạt thành
văn những ý tưởng nghị luận của mình. Dạng đề thường gặp là nghị luận về một
bài thơ, một đoạn thơ, một nhân vật…
Gv: Nguyễn Thị Thanh Tâm
Trung tâm GDTX Vĩnh Cửu
- 12 -
SKKN: Một số phương pháp rèn luyện kỹ năng viết môn Ngữ Văn cho HV khối GDTX
Ví dụ: trong bài viết số 3 ở HKI, phần tự luận, tôi yêu cầu học viên làm một trong các đề
sau:
a. Vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Việt Bắc qua đoạn thơ sau:
Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hái ân tình thủy chung.
(Việt Bắc- Tố Hữu )
b. Vẻ đẹp bi tráng của đoàn binh Tây Tiến trong đoạn thơ sau:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
(Tây Tiến - Quang Dũng )
Gv: Nguyễn Thị Thanh Tâm
Trung tâm GDTX Vĩnh Cửu
- 13 -
SKKN: Một số phương pháp rèn luyện kỹ năng viết môn Ngữ Văn cho HV khối GDTX
Đối với nghị luận văn học, học viên dễ dàng xác định yêu cầu của đề hơn, vì các em đã
được tiếp cận với nội dung đó qua tiết giảng bài của giáo viên trên lớp. Vì vậy giáo viên có
thể không cần phải hướng dẫn các em thao tác tìm hiểu đề.
2.2.2 Viết đúng mở bài
Viết mở bài là “nỗi khổ” của rất nhiều học viên, từ những học viên khá giỏi đến những
học viên yếu kém. Các em luôn lúng túng khi viết phần mở đầu cho một bài văn, thời gian
dành cho công việc này thông thường chiếm từ 15 phút đến 20 phút, thậm chí đến 25 phút
đối với học viên yếu. Như vậy, sau khi viết được mở bài, các em chỉ còn rất ít thời gian để
triển khai các nội dung chính cho bài văn.
Điều quan trọng là trong khoảng thời gian đó, các em lại viết mở bài sai. Sai kiến thức,
sai ngữ pháp, lệch trọng tâm so với đề bài. Cho nên, trong các giờ tăng tiết ở đầu năm học,
tôi mạnh dạn bỏ thời gian rèn luyện cách viết mở bài nhanh và đúng.
Chúng tôi khắc sâu vào nhận thức học viên các yêu cầu sau đây:
* Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý:
---- Phải bám sát vẩn đề trong đề bài, dùng những cách mở bài diễn dịch hoặc quv nạp để
dẫn dắt, giới thiệu tư tưởng cần nghị luận.
---- Dần nguyên văn câu nói (nếu có).
--- Nêu hướng nghị luận.
Ví dụ: Với đề bài: Anh (chị) hãy trả lời câu hỏi sau của nhà thơ Tố Hữu: "Ôi! sống đẹp là
thế nào hỡi bạn? Chúng ta hướng dẫn học viên lần lượt viết các ý sau:
-
Sống đẹp là một thái độ sống tích cực mà bất cứ ai trong chúng ta cũng phải phấn
đấu, rèn luyện.
-
Trong một bài thơ của mình, nhà thơ Tố Hữu đã viết:
"Nếu là con chim chiếc lá
Thì con chim phái hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không có trả
Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình”.
Gv: Nguyễn Thị Thanh Tâm
Trung tâm GDTX Vĩnh Cửu
- 14 -
SKKN: Một số phương pháp rèn luyện kỹ năng viết môn Ngữ Văn cho HV khối GDTX
Cũng trong bài thơ này, nhà thơ đã gửi đến tuổi trẻ chúng ta một câu hỏi lớn. Ôi! sống
đẹp là thế nào hỡi bạn? Hôm nay, tuổi trẻ chúng ta chọn cách sống như thế nào?
* Nghị luận về một hiện tượng đời sống:
- Giới thiệu tóm lược hiện tượng trong 1 hoặc 2 câu văn
- Nêu vấn đề.
- Nêu hướng nghị luận.
Ví dụ đề văn: Tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động để góp phần giảm thiểu tai nạn
giao thông? Hướng học viên viết các ý sau:
- Con người ai cũng mong cuộc sống yên lành, ấm no, hạnh phúc. Tuy nhiên, vấn đề lưu
thông và tai nạn giao thông đang là một hiện tượng nóng bỏng, làm đau đầu các nhà lãnh
đạo,gây biết bao thiệt hại cho con người.
- Không ai trong chúng ta có thể thờ ơ trước tai nạn giao thông.
- Tuổi trẻ học đường chúng ta cần phải làm gì trước vấn nạn ấy?
* Nghị luận về một bài thơ, một đoạn thơ,một nhân vật văn học:
- Phần mở đoạn (dẫn dắt vấn đề): Viết những câu dẫn dắt là những câu liên quan gần gũi
với vấn đề chính sẽ nêu. Tùy nội dung vấn đề chính mà người viết lựa chọn câu dẫn dắt có
thể là một câu thơ, một câu danh ngôn, một nhận định, hoặc một câu chuyện kể.
- Phần giữa đoạn (nêu giới hạn của vấn đề): Nêu vấn đề chính sẽ bàn bạc trong thân bài,
tức là luận đề (Giới thiệu tác giả và tác phẩm văn học có liên quan đến vấn đề nghị luận).
Vấn đề chính này có thể đã chỉ rõ, có thể người viết tự rút ra, tự khái quát. Đối với phân
tích bình giảng thơ thì thường là nêu ấn tượng bao trùm mang tư tưởng chủ đề mà người
đọc cảm nhận được.
- Phần kết đoạn (nêu vấn đề nghị luận): Nêu phương thức nghị luận và phạm vi tư liệu sẽ
trình bày. Có thể đó là những nhận xét đánh giá sơ bộ của người viết về tác phẩm, về nhân
vật ... Đây là phần trọng tâm của mở bài. Vấn đề nghị luận có thể đã được nêu ở đề bài
(người viết chỉ việc giới thiệu hoặc ghi lại đoạn trích, câu trích ở đầu bài) nhưng cũng có
khi người viết phải tự rút ra, tự khái quát khi tìm hiểu đề bài.
Có thể rút ra công thức viết đoạn mở bài như sau:
Gv: Nguyễn Thị Thanh Tâm
Trung tâm GDTX Vĩnh Cửu
- 15 -
SKKN: Một số phương pháp rèn luyện kỹ năng viết môn Ngữ Văn cho HV khối GDTX
(Phần mở đầu) Câu 1
(Phần giữa) Câu 2
(Phần kết) Câu 3
Dẫn dắt vấn đề
Nêu tác giả, tác phẩm
Nêu vấn đề nghị luận
Ví dụ: Đề văn về đoạn thơ Việt Bắc đã nêu ở phần trên.
Cần hướng dẫn học viên viết được các nội dung sau:
- Tố Hữu là nhà thơ tiêu biếu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ Tố Hữu mang phong
cách trữ tình chính trị và tính dân tộc đậm đà. Là nhà thơ chiến sĩ, Tố Hữu thường sáng
tác những tác phẩm nóng hổi tính thời sự.
- Tháng 10 -1954, sau chiến thắng ĐBP và Hiệp định Giơnevơ, các cơ quan Trung Ương
của Đảng và Nhà nước từ chiến khu Việt Bắc về thủ đô Hà Nội. Trước niềm vui lớn lẫn
nỗi luyến tiếc nhớ thương những người dân đã đồng cam cộng khổ, Tố Hữu sáng tác bài
thơ Việt Bắc.
- Bài thơ có những đoạn ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Việt Bắc rất ấn
tượng. Nêu đoạn thơ cần nghị luận.
Lưu ý:
Mỗi tuần chỉ triển khai cách mở bài cho một dạng đề. Thậm chí nếu lớp chưa viết được,
phải kiên trì với loại đề đó, không nên vội vàng chuyển sang loại đề khác.
Sau khi hướng dẫn lý thuyết yêu cầu đối với từng loại đề, nếu còn thời gian, giáo viên cho
học viên tập viết tại lớp, giáo viên đi quanh lớp chỉnh sửa từng lỗi câu, ý, chính tả... cho
học viên. Hoạt động này chỉ có hiệu quả khi giáo viên sửa bài viết cho tất cả các học
viên trong lớp mình. Thậm chí, nếu ở trên lớp không đủ thời gian, giáo viên yêu cầu học
viên về nhà làm tiếp và nộp lại, giáo viên sẽ tiếp tục sửa và trả lại sau đó vài ngày. Lòng
nhiệt tình chỉ dẫn của giáo viên khiến cho các học viên ý thức được việc rèn luyện văn
chương là vô cùng cần thiết cho bản thân. Từ đó, các em cố gắng viết và đã tiến bộ hơn
trước nhiều.
2.2.3 Triển khai ý trong thân bài
Gv: Nguyễn Thị Thanh Tâm
Trung tâm GDTX Vĩnh Cửu
- 16 -
SKKN: Một số phương pháp rèn luyện kỹ năng viết môn Ngữ Văn cho HV khối GDTX
Sau khi học viên viết được mở bài, giáo viên tiếp tục tiến hành hướng dẫn học viên viết
thân bài. Hoạt động này cũng được tiến hành hướng dẫn trên lớp, sửa lỗi tại lớp và ở nhà
như hoạt động rèn luyện viết mở bài.
a. Đối với kiểu bài nghị luận xã hội.
Hướng dẫn học viên nắm thật vững các yêu cầu sau:
- Giải thích hoặc tóm lược vấn đề cần nghị luận
- Lần lượt phân tích từng khía cạnh đúng / sai, tốt/ xấu của vấn đề.
- Nêu nguyên nhân và hậu quả của vấn đề/ hiện tượng.
- Bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện tượng xã hội đó.
V í du :
Với đề bài: Anh (chị) hãy trả lời câu hỏi sau của nhà thơ Tố Hữu: "Ôi! Sống đẹp là thế nào
hỡi bạn? Chúng ta hướng dẫn học viên lần lượt viết các ý sau:
- Sống đẹp là...
- Các biểu hiện của lối sống đẹp.
- Giới thiệu một số tấm gương sống đẹp.
- Phê phán những quan niệm và lối sống không đẹp.
- Phương hướng rèn luyện của bản thân để hướng tới lối sống đẹp.
Với đề bài : Bàn về Nguyễn Hữu Ân trong sách giáo khoa Ngữ Văn 12 tập 1, chúng ta
hướng dẫn học viên viết theo các gợi ý sau:
- Nguyễn Hữu Ân đã nêu cao tấm gương hiếu thảo, nhân ái,vị tha.
- Tuổi trẻ hiện nay có nhiều tấm gương như Nguyễn Hữu Ân
- Tuổi trẻ hiện nay vẫn còn có một số người sống ích kỷ, vô cảm, cần phê phán
- Tuổi trẻ cần dành thời gian cho việc tu dưỡng,lập nghiệp, sống vị tha... để trở thành
người có ích..
b. Đối với kiểu bài nghị luận văn học, giáo viên hướng dẫn học viên nắm thật vững các
yêu cầu sau:
- Lần lượt bàn về những giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm/đoạn trích theo hai
hướng:
Gv: Nguyễn Thị Thanh Tâm
Trung tâm GDTX Vĩnh Cửu
- 17 -

Sáng kiến kinh nghiệm MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VIẾT MÔN NGỮ VĂN CHO HỌC VIÊN KHỐI GDTX
- Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơxrixtic ): giáo viên dùng một hệ thống câu
hỏi được sắp xếp hợp lý để hướng học sinh từng bước phát hiện thực chất vấn đề
đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết. Trong trường hợp này, GV chỉ là
người tổ chức hoạt động còn HS chính là người tự lực phát hiện kiến thức. Do đó,
HS sẽ có sự hứng thú và trưởng thành về trình độ tư duy. Vẫn với ví dụ trên, GV
tiếp tục hướng dẫn học sinh khám phá ý nghĩa các chi tiết và sự kiện.
* Chi tiết ông trời mách nước cho Đăm Săn thể hiện điều gì?
* Nhận xét về cuộc chiến đấu và chiến thắng của Đăm Săn (Cuộc chiến có
gây cảm giác ghê rợn không? Sau khi giết Mtao – Mxây, Đăm Săn có giết tôi tớ,
đốt nhà của Mtao – Mxây không? Chàng chiến đấu vì mục đích gì?)
* Trong tiệc mừng chiến thắng, những chi tiết, hình ảnh nào dùng để miêu
tả sức mạnh và vẻ đẹp của Đăm Săn, qua những chi tiết ấy, tác giả dân gian muốn
thể hiện điều gì?
* Những tình tiết nào trong đoạn trích chứng tỏ cuộc chiến đấu của Đăn
Săn tuy có mục đích riêng nhưng lại có ý nghĩa và tầm quan trọng đối với lợi ích
của toàn thể cộng đồng?
* Qua đoạn trích, những đặc trưng nghệ thuật của sử thi được thể hiện như
thế nào?
Ưu điểm
Với phương pháp vấn đáp, tôi nhận thấy phương pháp đã khắc phục được
điểm yếu của phương pháp thuyết trình nhờ có sự tương tác giữa GV và HS thông
qua việc truyền thụ và lĩnh hội. Việc cùng tham gia giải quyết các vấn đề giữa GV
và HS đã khắc phục được lối truyền thụ một chiều của phương pháp thuyết trình.
Đồng thời khi ứng dụng phương pháp này, GV kích thích được sự năng động
và sáng tạo của HS nhờ quá trình tự lực tìm ra bản chất vấn đề dưới sự gợi ý,
hướng dẫn của mình. Qua đó, GV dễ dàng đánh giá được năng lực nhận thức và
mức độ tiếp thu tri thức của HS để có cách điều chỉnh PPDH cho phù hợp.
Ngoài ra, khi ứng dụng phương pháp phát vấn tìm tòi, GV cũng rèn luyện
cho HS một số thao tác tư duy lôgic như: phân tích, tổng hợp, khái quát, chứng
minh, diễn giải...
Nhược điểm
Phương pháp này phụ thuộc nhiều vào năng lực và thái độ của HS. Bên cạnh
đó, việc nảy sinh nhiều tình huống ngẫu nhiên trong quá trình đàm thoại dể gây
chệch hướng so với chủ đề ban đầu. Sử dụng phương pháp này sẽ mất nhiều thời
gian xây dựng hệ thống câu hỏi, nhất là trong vấn đáp tìm tòi. Quá trình sử dụng
phương pháp này có thể bị biến thành cuộc tranh luận tay đôi giữa GV và một số
HS.
1.1.2. Phương pháp thảo luận nhóm
Khi tiến hành phương pháp này, lớp học sẽ được chia thành từng nhóm nhỏ
từ 4 đến 6 người. Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần. Các thành viên trong
nhóm có thể phân chia một phần việc. Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp
vào kết quả học tập chung của cả lớp. Sau đó, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc
phân việc mỗi thành viên trình bày một phần vấn đề nếu nhiệm vụ giao cho nhóm
là phức tạp (có thể kết hợp với kĩ thuật khăn trải bàn và kỹ thuật động não). Thành
công của bài học phụ thuộc vào sự nồng nhiệt tham gia của tất cả các thành viên, vì
vậy phương pháp này còn làm gọi là phương pháp cùng tham gia. Tuy nhiên, khi
ứng dụng phương pháp này GV thường gặp phải một số hạn chế nhất định như
không gian nhỏ của lớp học, thời gian hạn định của tiết học. Vì thế, giáo viên phải
biết tổ chức hợp lý và học trò đã khá quen với phương pháp này thì mới có kết quả.
Ví dụ: Để HS nắm được những sự kiện chính ở văn bản Tấm Cám, tôi phân
các em thành tám nhóm và tổ chức cuộc thi nhỏ với tên gọi “nhóm nào nhanh
hơn”. Với các yêu cầu:
* Trong vòng 1 phút hãy sắp xếp lại các bức tranh cho sẵn theo đúng diễn
biến cốt truyện.
Bên cạnh đó khi muốn kiểm tra quá trình nhận thức, tình cảm của các em
đối với vấn đề đặt ra trong văn bản thông qua hành động trả thù của Tấm, tôi cũng
sử dụng phương pháp này bằng cách đặt câu hỏi để các em thảo luận và trình bày
suy nghĩ của mình.
* Em có suy nghĩ gì về hành động trả thù của Tấm? Tại sao Tấm trả thù?
Hành động như thế có độc ác không? Thử so sánh với cách kết thúc của truyện
Thạch Sanh và Sọ Dừa?
Ưu điểm
Trong số PPDH đang được sử dụng, phương pháp thảo luận nhóm có nhiều
ưu thế trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục mới hiện nay.
Kiến thức mà HS thu nhận được không chỉ là kết quả của hoạt động riêng
biệt của cá nhân mà thu nhận được thông qua quá trình cọ xát hợp tác, vì thế kiến
thức của HS sẽ giảm bớt tính chủ quan, phiến diện và tăng tính khách quan khoa
học.
Kiến thức trở nên sâu sắc bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh do được giao lưu,
học hỏi giữa các thành viên trong nhóm.
Giúp HS phát triển năng lực giao tiếp thông qua sự cộng tác làm việc trong
nhóm, giúp HS phát triển năng lực giao tiếp như biết lắng nghe, chấp nhận và phê
phán ý kiến của người khác, biết trình bày và bảo vệ ý kiến của mình trong nhóm.
Tăng cường sự tự tin cho HS. HS được liên kết với nhau qua giao tiếp xã hội
khiến các em sẽ mạnh dạn hơn và ít sợ mắc sai lầm.
Nhược điểm
Tuy nhiên, tôi nhận thấy khi ứng dụng phương pháp thảo luận nhóm đòi hỏi
nhiều thời gian. Thời gian 45 phút của một tiết học cũng là trở ngại gây khó khăn
trên con đường đạt được thành công cho công việc nhóm.
Thảo luận nhóm nhưng chưa được luyện tập sẽ dễ gây ra hỗn loạn. Thí dụ có
thể xảy ra trường hợp một HS phụ trách nhóm theo kiểu độc đoán, các thành viên
trong nhóm không làm bài mà quan tâm đến vấn đề khác. Giữa các nhóm có thể
phát sinh sự đối địch và giận dữ.
Sự thụ động hoặc hăng hái quá mức của các nhóm sẽ gây khó khăn cho sự
điều khiển của GV.
1.1.3. Phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học trò thực hành một số cách ứng xử
nào đó trong một tình huống giả định.
Khi tiến hành phương pháp này, giáo viên sẽ chia nhóm, tình huống đóng vai
cho từng nhóm, quy định rõ thời gian chuẩn bị và thời gian đóng vai. Học sinh sẽ
tiến hành vai diễn.
Sau khi các em hoàn tất, giáo viên hỏi học sinh đóng vai và kết luận về cách
ứng xử phù hợp trong tình huống giả định trên.
(GV cũng có thể cho HS phát biểu ý kiến cá nhân với tình huống giả định
mình là một nhân vật trong tác phẩm).
Ví dụ: Khi dạy văn bản Chiến thắng Mtao – Mxây, tôi cho sẽ chia lớp làm
hai nhóm, các nhóm sẽ cử đại diện bốc thăm để chọn vai nhân vật chính trong đoạn
trích Đăm Săn và Mtao – Mxây (HS có thời gian chuẩn bị trước ở nhà). Sau khi
các em đã hoàn thành vai diễn, tôi yêu cầu HS trong lớp nhận xét về:
- Cách ứng xử của từng vai diễn phù hợp hay chưa phù hợp? Chưa phù hợp ở điểm
nào? Vì sao?
Lưu ý: Với phương pháp này, GV nên kiên trì để HS tái hiện hình tượng nhân vật
theo cách cảm nhận và tưởng tượng của các em. GV không tưởng tượng tái hiện
thay HS. Có như vậy mới kích thích trí tưởng tượng của các em, khiến các em nhìn
ra phẩm chất nhân vật mà tác giả dân gian đã khắc hoạ trong văn bản và có thể trải
nghiệm cùng với nhân vật.
Ưu điểm
HS được rèn luyện thực hành kỷ năng ứng xử và bày tỏ thái độ của mình
trong quá trình học tập trên lớp trước khi thực hành trong thực tiễn.
Tạo ra được tâm lý hứng thú và sự chú ý cho HS, tạo điều kiện làm phát
triển óc sáng tạo của HS.
Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của HS theo hướng tích cực một cách
tự giác. GV có thể thấy ngay sự tác động có hiệu quả của HS qua vai diễn.
Nhược điểm
Song song đó, phương pháp đóng vai vẫn gặp phải một số hạn chế khi ứng
dụng cụ thể ở các lớp tôi phụ trách như: chỉ có thể tiến hành phương pháp này với
không gian lớp học rộng và HS mạnh dạn trong quá trình tham gia các vai diễn.
Đồng thời, GV sẽ mất nhiều thời gian nếu không có kinh nghiệm tổ chức hoặc HS
quá nhút nhát. Bên cạnh đó, nếu tình huống đóng vai được lặp đi, lặp lại giữa các
nhóm có thể gây nên sự nhàm chán đối với HS.
1.2. Giới thiệu một số kỹ thuật dạy học tích cực ứng dụng trong dạy đọc
hiểu văn bản tự sự dân gian lớp 10
1.2.1. Kĩ thuật “Các mảnh ghép”
Kĩ thuật này áp dụng cho hoạt động nhóm với nhiều chủ đề nhỏ trong tiết học,
học sinh được chia nhóm ở vòng 1 (chuyên gia) cùng nghiên cứu một chủ đề.
Sau khi các nhóm ở vòng 1 hoàn tất công việc giáo viên hình thành nhóm mới
(mảnh ghép) theo số đã đánh, có thể có nhiều số trong 1 nhóm mới (vòng 2).
Vòng 1
A2
A1
An
B1
C1
B1
B2
Bn
C1
C2
Cn
An
Bn
Cn
(chuyên
gia)
Vòng 2
A1
A2
B2
C2
Ví dụ: Dạy văn bản Tấm Cám, GV chia lớp thành 3 nhóm làm việc ở ba
góc.
Nhóm 1: Tìm liệt kê những chi tiết liên quan đến nhân vật tấm? Nhận xét về sự
phát triển của các chi tiết đó. Tại sao Tấm được giúp đỡ? Điều đó thể hiện quan
niệm gì của nhân dân?
Nhóm 2: Tấm hoá thân mấy lần? Những lần nào? Cho biết ý nghĩa các lần hoá
thân của Tấm? Quá trình biến hoá đó thể hiện ước mơ gì của nhân dân ?
Nhóm 3: Truyện Tấm Cám tập trung miêu tả vấn đề gì? Qua diễn biến cốt truyện,
nhận xét về mâu thuẫn giữa Tấm và mẹ con Cám. Bản chất của sự mâu thuẫn và
xung đột đó là gì?
Sau một khoảng thời gian làm việc nhất định, các nhóm sẽ hoán đổi vị trí
theo chiều kim đồng hồ để trải nghiệm các nhiệm vụ. Cuối cùng đại diện các nhóm
sẽ trình bày hiểu biết của mình về cuộc đời và con đường đấu tranh giành lại hạnh
phúc của Tấm.
Nhược điểm

Sáng kiến kinh nghiệm ỨNG DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TỰ SỰ DÂN GIAN LỚP 10
KINH NGHIỆM NHỎ VỀ DẠY TÁC PHẨM TRUYỆN
Người đàn bà với vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không
chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn”.
Sau khi người chồng bỏ đi, ” người đàn bà ngồi xệp xuống trước mặt thằng bé
ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra chấp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy.
Thằng nhỏ cho đến lúc này vẫn chẳng hề hé răng, như một viên đạn bắn vào người
đàn ông và bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà, làm rỏ xuống những
dòng nước mắt, và cái thằng nhỏ lặng lẽ đưa mấy ngón tay khẽ sờ trên khuôn mặt
người mẹ, như muốn lau đi những giọt nước mắt chứa đầy trong những nốt rỗ
chằng chịt.”
Tôi đưa ra vấn đề cho học sinh thảo luận như sau:
+ Em có suy nghĩ gì về những giọt nước mắt của người đàn bà? ( Vì sao bà ta
khóc? Những giọt nước mắt ấy có ý nghĩa gì trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm?
Thể hiện quan niệm của tác giả về con người?
+ Hành động người chồng đánh vợ một cách hùng hổ, tàn nhẫn nhưng lại nguyền
rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn...Em có nhận xét gì về sự tương phản giữa lời nói
và hành động của người đàn ông khi đánh vợ? Và sự tương phản này thể hiện sự
giằng xé nào trong nội tâm của người đàn ông?
Nghịch lí
Phát hiện thứ
nhất
Giáo Viên: Nguyễn Thu Duyệt
Phát hiện thứ hai
Trang 11
KINH NGHIỆM NHỎ VỀ DẠY TÁC PHẨM TRUYỆN
* Cách thức tiến hành:
Ở câu hỏi này tôi không chia nhóm trước vì đây là những câu hỏi khó. Tôi đặt ra
cho cả lớp cùng suy nghĩ. Sau đó học sinh phát biểu và từ ý kiến của học sinh tôi
hình thành nên nhóm và mỗi nhóm tự bảo vệ ý kiến của mình.
* Kết quả đạt được:
Trong quá trình thảo luận tôi nhận thấy ở học sinh có những ưu, khuyết chung.
Khả năng lập luận của các em khá vững về lý lẽ, nhưng về vốn sống thực tiễn của
các em còn non nớt, hơi lý tưởng hóa. Nhất thiết cho rằng mọi vấn đề cần phải rõ
ràng, hoàn thiện.
Cuối cùng tôi rút ra vấn đề: Cần thận trọng khi tìm hiểu đánh giá một con người
không nên có cái nhìn phiến diện chỉ dựa vào bên ngoài mà phải nhìn cuộc sống,
con người một cách đa diện, đa chiều. Cần phát hiện ra chiều sâu trong tâm hồn
con người.
2) Đóng vai
Về phương pháp: Đóng vai cơ bản là giáo viên thực hiện như lý thuyết đã nêu ở
phần trên nhưng có nhiều giáo viên ( ngay cả bản thân tôi trước đây) cũng chỉ thực
hiện qua loa, sơ sài, hình thức và thậm chí còn mất nhiều thời gian mà chưa đạt
được hiệu quả cao. Điều đó thể hiện qua các mặt:
+ Một số giáo viên trên lớp chỉ phân vai cho học sinh đọc, đọc diễn cảm lời thoại.
+ Một số người thì cho học sinh học thuộc lời thoại ở nhà và cho học sinh lên lớp
diễn.
Khi vận dụng phương pháp Đóng vai, không phải lúc nào giáo viên cũng thành
công do nhiều yếu tố khách quan lẫn chủ quan. Bản thân tôi cũng thường gặp
những thiếu sót. Từ đó tôi nhận thấy để đạt được hiệu quả cao giáo viên cần lưu ý
những điểm sau:
+ Đóng vai không chỉ nhằm mục đích chuyển tải ý tưởng, kiến thức cho học sinh
mà cần truyền cái hồn của ngôn từ, của ý tưởng, của kiến thức.
+ Đóng vai không phải là hình thức đọc mà là hình thức diễn. Nên hoạt động này
không chỉ là ngôn ngữ mà kèm theo động tác, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt...( Ở đây tôi
không đặt ra yêu cầu học sinh là một diễn viên nhưng ít nhất học sinh phải thể hiện
được cảm xúc của nhân vật như: nỗi đau, hạnh phúc, vui, buồn và cả những giằng
xé phức tạp trong nội tâm nhân vật. Học sinh cảm nhận tác phẩm –> Hiểu nhân
vật –> Sắm vai –> Ngọn lửa cảm xúc. Nếu học sinh không có ngọn lửa cảm xúc
thì không thể nhiệt tình, truyền cảm, không thể truyền ” độ nóng” đến với khán
giả). Do đó khi thực hiện, giáo viên cần chọn những nhân vật có nội tâm phức tạp
Giáo Viên: Nguyễn Thu Duyệt
Trang 12
KINH NGHIỆM NHỎ VỀ DẠY TÁC PHẨM TRUYỆN
( chú ý đến tâm trạng của nhân vật mà học sinh nhận vai). Học sinh phải hiểu rõ
nhân vật khi mình sắm vai. Muốn làm được điều đó người giáo viên phải là chiếc
cầu nối đưa học sinh đến với nhân vật. Đóng vai phải đem đến một hiệu quả nhất
định, học sinh phải xâm nhập vào nhân vật, phải hứng thú học tập.
+ Trước khi phân vai cho học sinh, giáo viên cần hướng dẫn để các em nắm bắt
được đời sống nội tâm của nhân vật. Tránh sự lệch hướng về thái độ, tình cảm của
nhà văn gửi vào nhân vật
Ví dụ : Hai cảnh, tình mà người ta hay chuyển thể thành nghệ thuật sân khấu
như: những lời đối thoại giữa Chí Phèo và Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của
Nam Cao. Và những đoạn đối thoại giữa Tràng và vợ Tràng trong tác phẩm Vợ
nhặt của Kim Lân). Nếu học sinh nhập vai không khéo thì sẽ chuyển từ thái độ
thông cảm, sẻ chia, trân trọng, ngợi ca thành những cảnh tình hài hước, châm
biếm, mỉa mai...Điều đó giá trị nhân đạo của hai tác phẩm bị lu mờ. Nam Cao
không còn là Nam Cao nữa và Kim Lân cũng không còn là Kim Lân nữa.
* Cách thức tiến hành:
Bước 1: Tôi cho học sinh đọc kỹ sách giáo khoa (ở nhà) để nắm cốt truyện.
Bước 2: Tôi chọn một, hai đoạn truyện bộc lộ được nội tâm của nhân vật.
Ví dụ: Trong tác phẩm: "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu, tôi
chọn cảnh người chồng đánh vợ vì cảnh truyện đó chứa đầy nghịch lý. Trong tác
phẩm " Vợ nhặt " của Kim Lân, tôi chọn cảnh "Bữa ăn ngày đói", nó thể hiện
sự thay đổi tâm trạng của nhân vật: bà cụ Tứ lạc quan, tin tưởng ở tương lai. Nên
khi nhận vai các em phải thể hiện được nội tâm của nhân vật này.
Bước 3: Xác định ý đồ, tư tưởng của nhà văn thể hiện qua nhân vật đó.
Ví dụ:
Khi nhập vai vào nhân vật Tràng thì học sinh cần hiểu được vai trò của nhân vật
trong tác phẩm, lòng nhân ái, khát khao hạnh phúc gia đình. Mẹ Tràng ( Bà cụ
Tứ) lòng nhân ái, bao dung, vị tha và niềm tin vào cuộc sống.
Nạn đói 1945
Giáo Viên: Nguyễn Thu Duyệt
Trang 13
KINH NGHIỆM NHỎ VỀ DẠY TÁC PHẨM TRUYỆN
Ví dụ: Trong tác phẩm "Vợ chồng A Phủ" của nhà văn Tô Hoài, Tôi chọn
đoạn truyện" "Cảnh đêm tình mùa xuân" thể hiện tâm trạng phức tạp của nhân
vật Mị: Từ tâm trạng vô cảm chuyển sang niềm khao khát được sống, được yêu,
được hạnh phúc.
Bước 4 : GV phân vai cho HS đóng vai.
Ví dụ : Ở lớp 12C4( sĩ số: 44) tôi cho HS nhập vai vào nhân vật Tnú trong tác
phẩm " Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành.( Ở đoạn truyện mà Tnu chứng
kiến cảnh giặc tra tấn vợ con và bản thân. Để đạt hiệu quả cao tôi hướng dẫn học
sinh nắm bắt được nội tâm của nhân vật Tnu : Vừa Yêu thương, đau đớn, căm giận
và quyết tâm trả thù.
Vì nhân vật Tnu là nhân vật đa tâm trạng nên giọng văn của Nguyễn Trung
Thành cũng được thể hiện đa giọng điệu. Cho nên khi sắm vai HS phải thể hiện nội
tâm của nhân vật qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ.
* Kết quả:
Thoạt đầu không khí lớp học loãng, học sinh cười nhưng sau đó các em bị cuốn
hút vào người đóng vai và cảm thông, chia sẻ với nhân vật, buồn, vui với nhân vật.
Không khí lớp học sôi nổi. Tôi cho đó là một sự thành công.
Giáo Viên: Nguyễn Thu Duyệt
Trang 14
KINH NGHIỆM NHỎ VỀ DẠY TÁC PHẨM TRUYỆN
Tôi kiểm tra học sinh một câu hỏi ngắn:
Qua sự diễn xuất của bạn, em hãy cho biết Tnu có mấy tâm trạng? Phần đông HS
trả lời đúng. Có nhiều ý kiến khác nhau trong 44 em mà tôi hỏi:
+ Có 8 em trả lời : Đau thương, căm thù.
+ Có 6 em trả lời : Yêu thương và đau xót.
+ Có 30 em trả lời : Vừa yêu thương, căm giận và quyết tâm trả thù.
Tuy có nhiều ý kiến khác nhau nhưng các em đều hiểu đúng tâm trạng của Tnu.
c) Phương pháp trực quan
Đây là phương pháp giáo viên thường sử dụng để minh họa cho tiết học thêm
sinh động như hình ảnh, những đoạn video clip về phim, nhạc, sơ đồ, mô
hình...đây là phương pháp khá phổ biến không chỉ ở Việt Nam và thế giới...từ đó
giúp học sinh cảm thụ bài học một cách tốt hơn. Bao giờ cũng thế, những hình ảnh
sống động dễ lưu lại hơn những câu chữ, kí hiệu. Hiện nay, phương pháp trực quan
được hỗ trợ bởi công nghệ thông tin.
* Thuận lợi:
Phần lớn các trường đều được cung cấp những trang thiết bị hiện đại, giáo cụ trực
quan.
Trình độ sử dụng công nghệ thông ở giáo viên và học sinh có nhiều tiến bộ, từ đó
hình thành ý thức tự học ở học sinh.
* Hạn chế:
Có nhiều Giáo viên suốt tiết học chỉ sử dụng công nghệ thông tin. Do sự lạm
dụng quá mức nên vai trò của người thầy trở nên mờ nhạt. Dù sao đi nữa thì hoạt
động dạy học của giáo viên là nghệ thuật( chứ không phải kỹ thuật), vì thế khi
truyền đạt cảm xúc của giáo viên là quan trọng mà máy móc, công cụ không thể
thay thế được.
Trên thực tế khi sử dụng phương pháp trực quan, tôi thường dùng tranh ảnh,
những đoạn phim minh họa, nhưng khác với trước đây, tôi chọn những hình ảnh,
đoạn video clip tiêu biểu nhằm làm nổi bật chủ đề hoặc tình huống của tác phẩm,
không làm nhiễu thông tin, không gây mất thời gian, tạo cho học sinh sự hứng thú
học tập.
Ví dụ 1: Trong tác phẩm" Chữ người tử tù" của Nguyễn Tuân, giáo viên tập
trung ở hai hình ảnh đối lập: giữa ánh sáng và bóng tối; giữa cái nhơ bẩn và
thanh khiết, trong sạch; giữa cái tầm thường và cái cao cả; giữa cái thiện và cái
ác; giữa bóng tối và ánh sáng...
Ví dụ 2: Trong tác phẩm " Hai đứa trẻ" của Thạch Lam, giáo viên tập trung
hai hình ảnh đối lập : Giữa bóng tối và ánh sáng; giữa hiện thực và ước mơ...
Giáo Viên: Nguyễn Thu Duyệt
Trang 15
KINH NGHIỆM NHỎ VỀ DẠY TÁC PHẨM TRUYỆN
Ví dụ 3:
Khi dạy về bài Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân, giáo viên minh họa con
sông Đà hung bạo và trữ tình bằng hình ảnh hay một đoạn video clip.
Sông Đà hung bạo
Sông Đà trữ tình
Nguyễn Tuân tô đậm cái hung bạo nên tập trung nhiều yếu tố: sóng, gió, nước,
cát, đá, bờ... nhằm thể hiện sức tàn phá của con sông Đà, nó được xem như kẻ thù
số một của con người.( Chi tiết này gợi ta nhớ đến tác phẩm Ông già và biển cả của
Hemingway).
Ví dụ 4: Dạy về bài Rừng Xà nu của Nguyễn Trung Thành, giáo viên giới thiệu
cho học sinh về sức sống mãnh liệt của cây xà nu và liên hệ tích hợp cho học sinh
về con người và cuộc sống của làng Xoman hiện nay.
Rừng xà nu trước đây
Rừng xà nu bây giờ
Giáo viên có thể giảng thêm về cây xà nu đại thụ - cụ Mết – Chiếc cầu nối giữa
dân làng và cách mạng. Cụ từng nói: Cách mạng là Đảng, Đảng còn, núi nước này
còn”
Giáo Viên: Nguyễn Thu Duyệt
Trang 16

Sáng kiến kinh nghiệm MỘT SỐ KINH NGHIỆM NHỎ VỀ DẠY TÁC PHẨM TRUYỆN
11
là thơ nhưng thơ tự sự, thơ hiện thực lại ít có những từ ngữ, hình ảnh bộc lộ trực
tiếp tình cảm, cảm xúc của nhà thơ, trong khi đó, thơ trữ tình lại thiên về bộc lộ
cảm xúc, tâm trạng… Đối với truyện cũng vậy, cùng là truyện ngắn nhưng có
truyện ngắn trào phúng, có truyện ngắn trữ tình…
Hiểu được điều này, học sinh sẽ tránh nhầm lẫn một cách máy móc khi cho
rằng: một đoạn văn bản truyện thì luôn dùng phương thức tự sự, một đoạn thơ thì
luôn dùng phương thức biểu cảm…
c/ Mỗi phương thức biểu đạt thường có một số hình thức văn bản cụ thể:
Ví dụ:
+ Phương thức tự sự : xuất hiện trong các tác phẩm văn học như truyện, tiểu
thuyết, kí sự… nhưng cũng được dùng trong bàn tin báo chí, sách lịch sử…
+ Phương thức miêu tả : dùng trong văn tả cảnh, tả người, tả vật, trong các
đoạn văn miêu tả của tác phẩm truyện
+ Phương thức biểu cảm: là phương thức biểu đạt chính của thơ trữ tình
nhưng cũng có mặt trong các văn bản như: tùy bút, bút kí, văn tế…
+ Phương thức thuyết minh: dùng trong các văn bản trình bày tri thức, trong
văn bản quảng cáo sản phẩm hàng hóa, trong các lời giới thiệu di tích, thắng cảnh,
nhân vật…
Điều lưu ý HS là trong một văn bản cụ thể, ngoài phương thức biểu đạt
chính, còn có thể phối hợp thêm nhiều phương thức biểu đạt khác nhau.
Ví dụ cụ thể: Yêu cầu HS xác định những phương thức biểu đạt được sử
dụng trong đoạn thơ:
“ Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
Níu váy bà đi chợ Bình Lâm
Bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
Và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần
Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
Chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
Mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
Điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng
Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
Bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
Bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên
12
( Đò Lèn – Nguyễn Duy)
(Câu 1 – Đề thi tuyển sinh Đại học khối C năm 2014)
- Giáo viên cần cắt nghĩa cho HS hiểu: Đây là thơ trữ tình, phương thức biểu
đạt chính sẽ là biểu cảm. Nhưng không chỉ vậy, trong đoạn thơ còn sử dụng cả các
phương thức khác là tự sự và miêu tả ( căn cứ nhận diện: ngoài việc bộc lộ cảm
xúc của người cháu, đoạn thơ còn thuật lại những chuyện trong quá khứ qua những
sự việc cụ thể, đoạn thơ còn có những dòng miêu tả: mùi huệ trắng quyên khói
trầm thơm lắm… )
d/ HS cũng hay mắc lỗi nhầm lẫn giữa phong cách ngôn ngữ, phương thức
biểu đạt, thao tác lập luận. Giáo viên cần lưu ý HS phân biệt rõ các phương diện
này.
Xét văn bản ví dụ:
“Loài chuột nhảy béttong sống trên vùng hoang mạc khô cằn ở Úc có thể
tìm ra nước từ trong lòng đất. Chúng đi tìm những hạt cây khô mang về bỏ vào các
hố đất sâu. Chỉ cần trong hố đất có một tí nước, hạt cây sẽ hút vào ngay. Chúng
đợi cho những hạt cây này hút đầy nước rồi mới bắt đầu lấy lên ăn.
Loài thằn lằn gai (Moloch) cũng sống ở sa mạc Úc, lại có cách lấy nước
nuôi cơ thể độc đáo hơn. Chúng lấy nước từ không khí. Toàn bộ cơ thể thằn lằn
gai được bao phủ bởi những khối u cứng và gai nhọn. Những thứ này không chỉ
giúp chúng tự vệ mà còn để làm một việc quan trọng không kém – lấy nước từ
không khí nuôi cơ thể. Trên lớp da cứng của chúng có vô số lỗ nhỏ li ti nằm giữa
những hàng gai. Chỉ cần một giọt nước đọng lại trên mình thằn lằn, nó sẽ bị thấm
vào da ngay. Sau đó nước sẽ được dẫn về phía đầu, dồn vào hai túi da xốp nhỏ
nằm trong hốc miệng. Khi đó, thằn lằn gai có thể uống nước một cách dễ dàng.”
(Theo Kiến thức ngày nay)
Giáo viên cần giúp HS xác định:
+ Văn bản trên là một văn bản cung cấp tri thức, thuộc phong cách ngôn ngữ
khoa học
+ Xét về phương thức biểu đạt, văn bản sử dụng phương thức chính là thuyết
minh
+ Về thao tác lập luận, văn bản sử dụng hai thao tác chính là giài thích và so
sánh
3. Giải pháp 3: Hướng dẫn viết đoạn văn ngắn
Các bài tập đọc hiểu thường có yêu cầu học sinh thể hiện cảm nhận của
mình trong một đoạn ngắn ( 5 – 7 dòng) về vấn đề nêu trong văn bản.
Để giúp học sinh bớt lúng túng, tránh mất thời gian, giáo viên nên hướng
dẫn học sinh tập viết bằng các bước sau:
- Xác định chủ đề cần viết (thường liên quan đến một nội dung của văn
bản đã cho)
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên
13
- Viết đoạn ngắn theo 1 trong 2 kiểu diễn dịch hoặc tổng – phân – hợp
(theo kinh ngiệm của giáo viên thì đây là 2 cấu trúc mà HS dễ thực hiện
hơn cả)
+ Đoạn diễn dịch thường có mô hình: A + B,C,D… ( trong đó A là câu chủ
đề; B,C,D… là các câu khai triển bậc 1)
+ Đoạn tổng – phân – hợp thường có mô hình: A + B,C,D… + A’ ( trong đó
A là câu chủ đề để giới thiệu đoạn văn; B,C,D…là các câu giải thích hoặc làm rõ ý
tưởng chính của đoạn văn bằng cách cung cấp các dẫn chứng, lí lẽ có liên quan; A’
là câu kết đoạn bằng cách nhắc lại nội dung/ ý tưởng chính)
Ví dụ 1: Yêu cầu HS nêu 2 tác dụng của việc tự học theo quan điểm riêng
của mình. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. ( mục Đọc hiểu, Đề thi minh họa-kỳ thi
THPT quốc gia năm 2015 )
- HS xác định 2 ý chủ đề ( tương ứng với 2 tác dụng của tự học ):
tự học giúp cho ta có được kiến thức một các vững chắc nhất;
tự học còn giúp ta rèn luyện tính độc lập trong tư duy.
- Triển khai từng ý chủ đề nêu trên theo lối diễn dịch:
Việc tự học sẽ giúp ta có được những kiến thức một cách vững chắc nhất.Vì
khi tự mình tìm đến với kiến thức, chọn lọc kiến thức với thái độ chủ động, tích
cực, ta sẽ hiểu sâu về vấn đề và nhớ lâu hơn…
Ngoài tri thức, tự học còn giúp ta tự rèn luyện nhiều phẩm chất tốt đẹp: sự
kiên trì, ý chí vượt khó…Đặc biệt, tự học giúp ta có thói quen tự suy nghĩ, tạo khả
năng tư duy sáng tạo.
- Học sinh cũng có thể kết nối 2 đoạn nhỏ trên thành 1 đoạn lớn.
Ví dụ 2: Yêu cầu HS bày tỏ suy nghĩ về vấn đề chủ quyền biển đảo Việt
Nam.
- Lập ý: theo cấu trúc tổng – phân – hợp
+ Câu mở đoạn: khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam
+ Các câu khai triển bậc 1: nêu thái độ đối với nhà cầm quyền Trung Quốc;
với quân dân ta; hành động của bản thân…
+ Kết đoạn: khẳng định niềm tin tất thắng của dân tộc ta
- Viết đoạn: Giáo viên cho HS tập viết theo mô hình trên, tuy nhiên cũng
khuyến khích những cách suy nghĩ độc lập, sáng tạo khác.
( Đoạn văn tham khảo )
Chủ quyền biển đảo Việt Nam là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Là một
người dân VN, chúng ta không thể không quan tâm đến những sự kiện diễn ra trên
biển Đông trong thời gian gần đây. Trước tình hình an nguy tới vận mệnh quốc
gia, chủ quyền dân tộc, đồng hành với toàn dân tộc, thế hệ trẻ chúng ta cùng lên
tiếng phản đối và tỏ rõ sự bất bình, phẫn nộ trước lối hành xử bất chấp lẽ phải,
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên
14
đạo lý và luật pháp quốc tế của nhà cầm quyền Trung Quốc. Đồng thời, ta cũng
bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ với các chiến sỹ, nhân dân đang ngày đêm bất chấp
hiểm nguy để bám biển, bám tàu thuyền, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh hải thiêng liêng
của Tổ Quốc. Chúng ta sẵn sàng cống hiến tuổi trẻ của mình khi tổ quốc kêu gọi.
Tuy nhiên, chúng ta cần bình tĩnh, sáng suốt, có hành động bảo vệ tổ quốc theo
đúng luật pháp Việt Nam và quốc tế. Dân tộc ta vốn có một lòng yêu nước nồng
nàn. Chúng ta có chính nghĩa, có tinh thần anh dũng, không sợ hi sinh. Với sự
đoàn kết của toàn dân tộc, chúng ta tin tưởng chủ quyền biển đảo VN sẽ được giữ
vững, như lời Bác Hồ năm xưa đã căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng
nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
SKKN này đã giúp cho giáo viên có ý thức rõ ràng hơn về việc tăng cường
các biện pháp nhằm đáp ứng được yêu cầu đổi mới về dạy học, kiểm tra đánh giá
kết quả học tập theo định phát triển năng lực học sinh theo chỉ đạo của Bộ
GD&ĐT.
Thông qua hướng dẫn của giáo viên, học sinh một mặt có thể làm tốt các bài
tập đọc hiểu văn bản bản ngắn, vừa nâng cao được năng lực đọc hiểu văn bản và
tạo lập văn bản nói chung. Chất lượng học tập của học sinh được nâng cao, kết quả
làm bài cũng tốt hơn trước rất nhiều. Đặc biệt các em đã có được phương pháp làm
bài, không còn lúng túng, nhầm lẫn khi làm các bài tập đọc hiểu như trước.
Việc tìm tòi, nghiên cứu các biện pháp dạy đọc hiểu cũng giúp giáo viên có
thêm nguồn tư liệu bổ sung cho phương pháp, kĩ thuật dạy học, qua đó cũng góp
phần làm phong phú nội dung bài dạy, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy
học bộ môn.
Áp dụng những kinh nghiệm đã nêu, kết quả giảng dạy môn Văn cuối năm
của các lớp kể từ năm học 2013 – 2014 đến nay đã có nhiều tiến bộ rõ nét. Tỉ lệ bộ
môn của cả Tổ cũng đạt trên 75 % (so với trước chỉ đạt 60 %).
Trong bối cảnh có nhiều thay đổi về cấu trúc đề thi ở thời gian qua, kết quả
thi tốt nghiệp THPT môn Văn của trường Ngô Sĩ Liên vẫn giữ vững ở mức cao,
thường vượt tỉ lệ chung của tỉnh. Năm học 2013 – 2014, tỉ lệ tốt nghiệp ở các lớp
đã dạy đạt 90% ( so với tỉ lệ 82% của tỉnh ). Ở năm học 2014 – 2015, với cấu trúc
đề thi mới, kết quả thi cuối kỳ cũng đạt mức khả quan, tỉ lệ chung của cả tổ Văn
đạt 85%, kết quả giảng dạy cuối năm ở các lớp 12 cũng đạt hơn 75%.
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
SKKN này đã được người viết vận dụng trong quá trình giảng dạy của bản
thân hai năm gần đây, sau đó triển khai áp dụng rộng rãi trong phạm vi tổ Văn của
trường THPT Ngô Sĩ Liên. Giáo viên trong tổ tiếp tục triển khai trong giờ dạy của
mình và cũng đã thu được những kết quả khá tốt, đặc biệt rất có ích cho những
giáo viên trẻ, chưa có kinh nghiệm giảng dạy.
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên
15
Tuy nhiên, do mới được nghiên cứu và áp dụng trong thời gian chưa lâu, lại
ở một phạm vi nhỏ là một trường phổ thông, nên đề tài chưa có được rút kinh
nghiệm nhiều, mức độ đầu tư còn chưa tương xứng với yêu cầu đề ra. Hi vọng với
sự góp ý của các cấp quản lí và đồng nghiệp, người viết sẽ tiếp tục đầu tư nghiên
cứu để đề tài ngày càng có chất lượng hơn.
VI. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007). Từ điển thuật ngữ văn
học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
2. Phương Lựu (chủ biên) (2004). LÍ LUẬN VĂN HỌC,Nxb Giáo dục, Hà Nội.
3. Trần Đình Sử (chủ biên) (2004). Tự sự học – một số vấn đề lí luận và lịch
sử, Nxb ĐHSP, Hà Nội.
4. Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa (2006). Phong cách học Tiếng Việt,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
5. Nguyễn Thị Ảnh (1999). Tiếng Việt thực hành, Nxb Thanh niên, Tp.HCM.
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu tập huấn Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết
quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn, Hà
Nội, 2014.
VII. PHỤ LỤC
Một số bài tập nhỏ dùng để lấy điểm hệ số 1
Bài tập 1: Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi:
“Nếu Kiều là người yếu đuối thì Từ là kẻ hùng mạnh, Kiều là người tủi nhục
thì Từ là kẻ vinh quang. Mỗi bước chân Kiều đều gặp phải bất trắc thì Từ ngang
dọc tự do. Suốt đời Kiều chịu đựng thì Từ bất bình, Kiều quen tiếng khóc thì Từ
quen tiếng cười. Kiều đội trên đầu nào trung, nào hiếu thì Từ “nào biết trên đầu
có ai”. Kiều lê lết trên mặt đất với bao éo le và tai họa thì Từ vùng vẫy phóng túng
tự do. Kiều là hiện thân của mối mặc cảm tự ti, còn Từ thì lòng đầy tự tôn”.
( Đọc lại Truyện Kiều – Vũ Hạnh)
a/ Nội dung đoạn văn nói về điều gì?
b/ Các biện pháp nghệ thuật nổi bật trong đoạn văn? Tác dụng của chúng?
c/ Giải thích ngắn gọn các từ “tự ti”, “tự tôn”
d/ Thao tác lập luận chính được sử dụng trong đoạn văn ?
Gợi ý trả lời:
a/ Nội dung đoạn văn so sánh sự khác biệt về tính cách, số phận giữa Kiều
và Từ Hải.
b/ Các biện pháp nghệ thuật nổi bật: sử dụng kết cấu đối lập – song hành,
biện pháp lặp CP: (nếu) Kiều …(thì) Từ…
Tác dụng: nhấn mạnh sự khác biệt giữa 2 nhân vật
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên
16
c/ “tự ti”: sự mặc cảm, hạ thấp bản thân
“tự tôn”: đề cao, coi trọng bản thân
d/ Thao tác lập luận chính được sử dụng trong đoạn văn: so sánh
Bài tập 2:
Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi:
“Kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc. Kháng chiến có thắng lợi thì kiến
quốc mới thành công. Kiến quốc có thành công thì kháng chiến mới thắng lợi”.
(Hồ Chí Minh)
a/ Nội dung đoạn văn nói về điều gì?
b/ Biện pháp nghệ thuật nổi bật trong đoạn văn? Tác dụng của chúng?
c/ Em hiểu như thế nào về từ “kiến quốc”?
Gợi ý trả lời:
a/ Đoạn văn nêu mối quan hệ giữa nhiệm vụ kháng chiến (giành chính
quyền, giành độc lập tự do, lập nên chế độ mới) và nhiệm vụ kiến quốc (xây dựng
đất nước) của cách mạng nước ta.
b/ Biện pháp nghệ thuật nổi bật là đảo đối.
Tác dụng: nhấn mạnh sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa 2 nhiệm vụ.
c/ “Kiến quốc” là kiến thiết, xây dựng đất nước, bao gồm xây dựng chính
quyền, phát triển kinh tế, chăm lo đời sống nhân dân…
Bài tập 3: Đọc đoạn thơ và trả lời các câu hỏi :
“Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son...
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái mái đình cây đa
?”
( Trích “Việt Bắc” – Tố Hữu )
1/ Nội dung chính của đoạn thơ ?
2/ Chỉ ra các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn thơ trên? Phân tích
giá trị biểu đạt của chúng.
3/ Cách sử dụng từ “mình” trong câu “Mình đi, mình có nhớ mình” đặc sắc ở
điểm nào ?
Gợi ý trả lời:
1/ Nội dung chính của đoạn thơ :
- Đây là lời của người Việt Bắc, hỏi để gợi nhắc người ra đi nhớ về những
tháng ngày kháng chiến gian khổ, nhiệm vụ kháng chiến nặng nề, đắng cay ngọt
bùi có nhau. Hỏi cũng là để gợi nhắc đến nghĩa tình cách mạng, đến những con
người Việt Bắc nghèo nhưng giàu tình nghĩa; nhớ chiến khu Việt Bắc là chiếc nôi
của cách mạng…
2/ Chỉ ra các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn thơ trên:
- Điệp ngữ : mình đi, có nhớ, mình về, có nhớ…
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên
